Chương 1: Bốn mươi tư ngôi mộ dữ
Thế giới mênh mông không có chuyện kỳ lạ gì là không có, trước đây tôi thường nghe người ta nói như thế, nhưng bao giờ cũng vậy, khi sự kiện ly kỳ xảy đến với bản thân, tôi lại bắt đầu nghi ngờ tính chân thật của câu nói ấy. Sau khi nghe xong câu chuyện của “ông nội”, tôi thần người hồi lâu mới choàng tỉnh, cảm giác như thể đã trải qua một đời người.
Sở dĩ tôi thêm dấu ngoặc kép bên ngoài hai chữ ông nội, là vì ông không phải ông nội ruột của tôi, hoặc có thể nói, tôi không có quan hệ máu mủ ruột rà với ông. Chỉ là cha tôi vì một số nguyên nhân nên đã đổi sang họ của ông, ngay cả cái tên Phan Mộc Dương của tôi cũng là do ông đặt cho.
Trong ấn tượng của tôi, ông nội luôn là một người thần bí, bất kể mùa đông hay mùa hè ông cũng đều mặc một chiếc áo bông màu đen rách rưới lòi cả bông bên trong ra, tóc tai bù xù, ánh mắt xa xăm, nét vui vẻ dường như không thuộc về gương mặt ấy. Ông sống trong một gian nhà cỏ sâu tít trong làng, cách những nhà khác vài trăm mét. Vườn nhà ông không rộng lắm, nhưng có nuôi mấy con gà trống lông bóng mượt.
Người làng rất ít qua lại với ông nội tôi, nhưng mọi người đều vô cùng kính trọng ông. Nguyên nhân chủ yếu là vì ông có biết tài xem âm trạch (chọn phần mộ cho người chết). Ông có rất nhiều quy củ, nếu không phải là kẻ hữu duyên thì dẫu trả nhiều tiền mấy cũng không lay động nổi.
Hồi nhỏ ở quê, tôi từng sống với ông nội một thời gian, nhưng tôi thực không muốn nhớ lại đoạn ký ức ấy. Về sau, tôi đi học bên ngoài, rồi không có tin tức gì của ông nữa, có lẽ là vì ông không phải ông nội ruột của tôi, sau khi ông nội ruột qua đời, tôi có cảm giác ở quê không còn người thân nào nữa, nên cũng không còn quan tâm đến quê nhà.
Mãi đến mùa thu năm 2008, đúng vào lúc khủng hoảng tài chính xảy ra, tôi không may bị mất việc. Tôi đang trốn trong nhà, gửi đơn xin việc đi khắp nơi mà không có kết quả thì cha tôi đột nhiên gọi điện thoại tới. Qua điện thoại, cha bất ngờ nhắc đến ông nội, bấy giờ tôi mới nhớ tới ông già đó. Cha nói với tôi: ông bị ung thư phổi, lúc phát hiện thì đã đến giai đoạn cuối rồi, bệnh viện đã gửi thông báo bệnh tình nguy cấp, nếu tôi không bận quá nhiều việc, mấy hôm nữa hãy cùng cha trở về thăm ông nội.
Về chuyện của tôi hồi nhỏ, thực tế là ông già vẫn luôn thấy áy náy với tôi, nói xong, cha tôi gác máy. Đặt điện thoại xuống, tôi nhìn chiếc đồng hồ đeo trên cổ tay trái, nơi cổ tay vẫn còn hai vết sẹo nhỏ rõ mồn một.
Dẫu sao người cũng đã già rồi, tôi nghĩ cũng nên quay về thăm ông một chuyến. Nghĩ tới đây, tôi gọi lại cho cha, nói lúc nào cha về quê tiện thể qua đón tôi.
Ba ngày sau, cha lái xe đến đón tôi. Hai cha con cũng hơn nửa năm nay không gặp nhau, quãng thời gian nửa năm đã khiến người cha hơn năm mươi tuổi của tôi trông già hẳn đi. Kỳ thực, không phải tôi không muốn về nhà thăm họ, chỉ là vì vết thương trên cổ tay tôi.
Do mấy hôm trước trời đổ một trận mưa thu, nên sau khi ra khỏi đường cao tốc, chiếc xe cứ tròng trành trên con đường núi lầy lội, cả tôi lẫn cha đều trầm mặc không nói năng gì. Có lẽ vì bầu không khí quá ngột ngạt, cha mới ngập ngừng lên tiếng:
“Mộc Dương, con… gần đây vẫn khỏe chứ?”
Đương nhiên tôi hiểu được ngụ ý của cha, ông nói “khỏe chứ” là chỉ vết thương trên cổ tay tôi. Tôi miễn cưỡng rặn ra một nụ cười mỉm, đáp:
“Khỏe nhiều rồi, đã mấy tháng nay không phát bệnh nữa.”
Kế đó, bầu không khí trong xe lại rơi vào im lặng, một lúc sau, cha đưa cho tôi một điếu thuốc, rồi tự ông cũng châm một điếu, rít mạnh một hơi, cho xe chạy chậm lại:
“Trong lòng con có phải vẫn luôn oán trách ông ấy hay không?”
Lời cha nói làm tôi run rẩy, có lẽ hận một người sâu nhất chính là hoàn toàn quên mất con người ấy. Tôi không nói năng gì, rít một hơi thuốc sau đó quay đầu ra phía ngoài xe, bên ngoài là một dãy núi cao trải dài.
“Thực ra ông ấy vẫn luôn nghĩ cách để bù đắp.” Cha tôi điềm đạm nói.
Tôi không tỏ thái độ gì, “Khịt” một tiếng trong mũi, sau đó tiếp tục chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ, nước mắt đã trào ra khóe mắt.
“Bố, về ông ấy, bố biết được chừng nào?” Tôi đột nhiên hỏi.
Cha tôi khẽ run lên, thực ra, tôi biết cha tôi, thậm chí là ông nội ruột của tôi cũng nắm được rất ít về ông già ấy, không ai biết ông đến từ đâu, nghe người ta nói ông đến vào mùa thu một năm nọ, chỉ mặc chiếc áo bông màu đen đó, trên người không có của cải nào khác, ngoài một chiếc hộp nhỏ màu đen, to bằng bàn tay, đeo ở thắt lưng. Ông đến làng tôi, và ở lại.
“Mộc Dương… thực ra có rất nhiều chuyện con không biết!” Cha tôi thở dài nói, “Nếu bố nói với con những lời này, con nhất định sẽ cảm thấy giống như chuyện cổ tích, nhưng đó chính là sự thật đấy.”
“Khục khục,” tôi cười khinh khỉnh, không tin trên thế giới này lại có chuyện gì khiến tôi cảm thấy giống như cổ tích.
“Sở dĩ ông ấy ở lại làng, không phải vì ông ấy không có nhà để về, mà là người trong làng không thể để ông ấy đi.” Cha tôi cắn môi nói.
Câu nói này của cha đúng là nằm ngoài dự liệu của tôi, vốn dĩ tôi vẫn luôn cho rằng ông ấy mặt dày mày dạn không chịu rời khỏi nơi đây, chẳng ngờ sự thực lại như vậy.
“Nhưng mà… nhưng mà tại sao chứ?” Tôi nghi hoặc ngước nhìn cha.
Cha tôi dừng xe lại, sau đó ra hiệu cho tôi ra khỏi xe, lúc này đã vào cuối thu, trời lại mới đổ một trận mưa, bên ngoài hơi lành lạnh. Cha tôi dựa vào cửa xe ném cho tôi một điếu thuốc, tự mình cũng thong thả châm một điếu, sau đó chỉ tay vào ngọn núi trước mặt:
“Mộc Dương, con thấy ngọn núi kia không?”
Tôi nhìn cha với ánh mắt khó hiểu, sau đó ngước nhìn theo hướng ngón tay ông chỉ, chỉ thấy một ngọn núi cao cằn cỗi, ở lưng chừng núi chi chít bia mộ màu trắng, nằm lẩn khuất giữa đám cỏ dại.
“Có thấy những mộ phần trên núi đó không?” Cha tôi tiếp tục nói.
“Vâng…” Tôi vâng dạ gật đầu.
“Ở đó tổng cộng có hai trăm bảy mươi bảy ngôi mộ, hai trăm bảy mươi bảy người này đều chết trong một tháng.” Cha tôi lại rít mạnh một hơi thuốc, “chết vì thi biến.”
“Thi biến?” Tôi kinh hãi lặp lại, trố mắt nhìn cha như không thể tin nổi, thầm nhủ, chẳng lẽ trên thế giới này có chuyện thi biến thật sao?
“Con thấy khó tin lắm phải không?” Cha tôi điềm đạm nói.
Tôi vội gật đầu, đợi cha kể tiếp. Một hồi lâu cha mới chậm rãi cất tiếng, suốt nửa tiếng đồng hồ sau đó, tôi nghe mà chỉ biết trợn mắt há miệng, cơ hồ không dám tin đây là những lời thốt ra từ miệng cha mình, bởi lẽ cha tôi là người không bao giờ nói dối, vì vậy tôi buộc lòng phải tin những lời ông nói. Nhưng chuyện này lại quá đỗi lạ lùng.
Chuyện xảy ra vào cuối thời Dân quốc, để bổ sung binh lực cho quân đội, các lộ quân phiệt lớn nhỏ đều đi khắp nơi bắt trai tráng, tất nhiên quê nhà Bắc Mông của tôi cũng không thoát khỏi số phận đó. Đám quân phiệt này chẳng những bắt trai tráng, còn muốn cướp bóc vơ vét một phen, nếu trên mặt đất không có, các vị lão gia quân phiệt ấy sẽ đào mộ quật mã người lên.
Tất nhiên, bọn họ tuyệt đối không dùng các thủ pháp ôn tồn như đám trộm mộ chuyên nghiệp, mặc kệ đó là mộ huyệt kiên cố vững chãi chừng nào, chỉ cần mấy cân thuốc nổ là có thể khoét ra một cái hầm lớn. Bắc Mông vốn là một ngôi làng nghèo xác xơ ở trên núi, nhưng trong làng lại có một khu mộ địa rất lớn, người làng gọi là khu Tứ Thập Tứ Trủng (Bốn mươi tư mộ).
Quân phiệt bắt trai tráng xong liền nhắm vào khu mộ trên núi ấy, kể ra thì khu mộ địa này cũng có thể coi là đất báu phong thủy, ba mặt được núi non bao bọc, một mặt hướng ra phía có nước. Chẳng những vậy, trong khu mộ còn có rất nhiều thủy liễu sum suê tươi tốt. Không biết những cây liễu ấy rốt cuộc là giống gì, dù giữa mùa hạ nóng bức, trong rừng liễu cũng hiếm khi thấy có côn trùng. Người trong làng mỗi khi đi qua khu mộ ấy đều cảm thấy từng đợt khí lạnh từ bên trong ùa ra.
Vì lẽ đó, dân làng tôn kính khu mộ này như thần linh vậy, trừ tiết Thanh Minh, Đông Chí ra tuyệt đối không dám tùy tiện đặt nửa bước chân vào bên trong. Tay quân phiệt nghe nói khu mộ này dẫu vào mùa hè cũng không có côn trùng, thì càng thêm tò mò, thầm nghĩ bên dưới mộ địa ắt hẳn phải giấu bảo bối trân kỳ gì đây.
Vậy là, hắn ta dẫn theo hơn một trăm người phong tỏa khu mộ lại, chia thành từng nhóm bắt đầu khai quật. Mộ huyệt ở làng này không có nhiều cơ quan đường ngầm và tầng tầng lớp lớp cạm bẫy chống trộm như mộ của các nhà quyền quý, mà chẳng qua chỉ là một nắm đất, bên trên đặt thêm mấy tảng đá, sơ sài đến mức cả bia mộ cũng miễn luôn, có mộ còn không có cả đá lên. Đào những mộ huyệt kiểu này thậm chí còn không phải dùng đến thuốc nổ.
Đám quân sĩ làm việc cật lực, tiến độ cũng rất nhanh, chỉ mất có một ngày từ sáng sớm đến chập tối, bốn mươi ba ngôi mộ đã quật ra. Nhưng điều khiến chúng kinh ngạc là, bên trong bốn mươi ba ngôi mộ ấy lại trống không, đừng nói là bảo bối quý hiếm, ngay cả mấy mảnh xương cốt mục nát cũng chẳng thấy đâu.
Điều này càng khiến tay quân phiệt thêm tò mò với khu mộ địa, rốt cuộc là ai đã đào nhiều mộ trống đến thế ở chốn khỉ ho cò gáy này? Những mộ trống ấy đều là mộ giả, hẳn để che giấu ngôi mộ thật sự rồi. Vả lại, khu mộ địa này được gọi là Tứ Thập Tứ Trủng, giờ mới đào được bốn mươi ba ngôi mộ, vậy ngôi mộ cuối cùng rốt cuộc ở đâu?
Đầu lĩnh quân phiệt một mặt dặn dò quân sĩ đào bới trong rừng liễu, nôn nóng muốn tìm thấy ngôi mộ cuối cùng. Mặt khác, hắn ta gọi những người già trong làng Bắc Mông đến tra hỏi xem ngôi mộ cuối cùng ở đâu. Nhưng nơi này mặc dù gọi là Tứ Thập Tứ Trủng, song cũng chỉ do từ đời tổ tiên đã gọi như vậy thôi, chẳng có ai từng kiểm tra xem rốt cuộc có bao nhiêu ngôi mộ.
Ai nói đám quân phiệt đều chỉ là hạng giá áo túi cơm, bất tài vô dụng? Tay quân phiệt này thực sự cũng có chút thủ đoạn, hắn ta đột nhiên phát hiện không chỉ riêng khu mộ địa này quái dị lạ thường, mà cả những cây liễu trong khu mộ cũng được trồng một cách rất kỳ dị. Thoạt nhìn qua, trông có vẻ lộn xộn không theo quy củ nào, nhưng tính toán kỹ lại thì không khó nhận ra, khoảng cách giữa hai cây cạnh nhau về đại thể là tương đồng, toàn bộ đều cách nhau năm bước chân, và tất cả các ngôi mộ giả đều vừa khéo nằm giữa hai thân cây.
Hắn đảo mắt một vòng nhìn quanh, ánh mắt đột nhiên dừng lại ở một khoảng đất trống cách đó không xa lắm. Chỉ riêng khoảng đất trống giữa hai cái cây đó là không có mộ giả, có điều, mặt đất đã bị đám binh sĩ đào mấy cái hố sâu nửa mét. Tay quân phiệt nhìn ngó một hồi, liền hạ lệnh cho mấy tên lính đi tới tiếp tục đào sâu xuống nữa.
Lúc bắt đầu đào bới thì đã là chập tối, tay quân phiệt ra lệnh đốt lửa nấu cơm luôn tại khu mộ, còn bản thân hắn thì cứ ngồi chồm hổm bên cạnh hố sâu quan sát tình hình bên trong.
Lại nói mấy tên lính đào bới chừng hơn nửa canh giờ (khoảng hơn một tiếng), cái hố đã được mở rộng ra hai mét, sâu hơn một mét, cuốc chim trên tay đột nhiên phát ra một tiếng “kịch” trầm đục, tựa như chạm phải vật cứng gì đó. Lưỡi cuốc làm bằng gang đã gãy ra làm đôi.
Tay quân phiệt cả mừng, nhảy phắt xuống dưới hố sâu, cầm một cây đuốc soi xem rốt cuộc là gì, chẳng ngờ vừa xem, hắn không khỏi giật nảy mình kinh hãi. Trước mắt hắn là cái rãnh sâu do lưỡi cuốc để lại, nửa mảnh cuốc cắm bên trong, để lộ ra chỗ vỡ màu trắng. Hắn sai người rút ra, ai ngờ nửa mảnh cuốc bằng gang lại không hề nhúc nhích, cứ như thể đã được khảm vào trong cái rãnh.
Bên dưới rốt cuộc là thứ gì vậy? Không ngờ lại có sức mạnh như thế. Hắn ta càng thêm tò mò, lập tức sai thêm mấy người nữa nạy nửa mảnh cuốc kia ra. Sau khi xem xét kỹ càng, đầu nhọn của nửa lưỡi cuốc vừa rút ra chỉ dính một ít đất bùn khô màu đỏ, hoàn toàn không hề có dấu vết kim loại bị cọ xát mà trắng như trong dự đoán.
Bên trong rốt cuộc là thứ gì? Nghĩ tới đây, hắn liền sai người lấy thuốc nổ, mặc xác bên dưới là cái gì, kể cả có là bê tông cốt thép hẳn cũng khó mà chịu được uy lực của thuốc nổ chứ? Thuốc nổ được nhét vào bên trong, sau khi châm lửa, cả đám người chạy ra xa nấp kín. Sau một tiếng nổ lớn, bên trong hố sâu cuộn lên một đám bụi cát màu đỏ.
Tay quân phiệt tấp tểnh chạy tới chỗ cái hố, nhưng khi đến miệng hố, nét mặt đang rạng rỡ của hắn thoắt cái đã chuyển thành kinh ngạc khôn tả. Dẫu thế nào, tay quân phiệt cũng không thể ngờ đến cảnh tượng mà hắn nhìn thấy trước mắt: bụi cát màu đỏ tan đi hết, tầng đất đỏ bên dưới hố sâu không ngờ chỉ bị nổ ra một cái hốc nhỏ, cỡ bằng cái xô xách nước.
“Con bà nó, đất này cũng cứng thật đấy.” Tay quân phiệt hằn học nói, “Cho nổ tiếp…”
Nghe dứt lời, mấy gã công binh liền nhảy xuống hố, chỉ một chốc sau, lại có tiếng nổ vang trời, lần này âm thanh còn lớn hơn lần trước nhiều, chắc hẳn đã tăng thêm lượng thuốc nổ. Lại một đợt bụi cát đỏ bay mù mịt, tay quân phiệt chạy tới miệng hố xem xét lần nữa, cái hốc lúc này đã bị nổ toác ra to như miệng cái ang, hắn ta ngồi xổm xuống rìa hố, cầm một mảnh đất màu đỏ vừa bị nổ bắn ra, đưa lại gần cây đuốc quan sát cẩn thận, cũng không nhận ra có điểm gì đặc biệt, chỉ là không hiểu tại sao lại cứng rắn nhường ấy, gang thép cũng bị nó làm cho gãy lìa.
“Nổ thêm lần nữa.” Tay quân phiệt ném cục đất trên tay sang bên cạnh, châm ngòi nổ, ánh mắt nhìn chằm chằm vào hố sâu ở cách xa năm mươi mét phía trước. Sau một tiếng “ầm” trầm đục, hắn ta bỗng nhiên cảm thấy mặt đất dưới chân mình thình lình rung lên một chập.
Hắn biết chắc chắn là đã nổ ra chỗ trống, liền ba chân bốn cẳng chạy tới, quả nhiên, bên dưới hố xuất hiện một cái hang sâu hun hút, gió lạnh âm u từ trong cửa hang thổi ra thốc vào mặt. Tay quân phiệt cả mừng, lập tức sai người cầm đuốc đến, rút súng lục ra, gọi hai dân làng Bắc Mông, ép họ đi vào trong huyệt động trước.
Sau khi họ đi vào, tay quân phiệt dẫn theo hai tên lính cùng cầm đuốc tiến vào theo. Mộ huyệt này không lớn cho lắm, diện tích chỉ khoảng ba chục mét vuông, bên trong rất sạch sẽ, không có dấu vết từng bị trộm mộ, nhưng lại cũng không có bảo bối quý giá gì. Sâu tít bên trong cùng mộ huyệt có một cỗ quách màu đỏ.
Cỗ quách này lưng hướng Bắc, mặt hướng Nam, to gấp đôi quan quách thường thấy, mặt ngoài trét đất sét đỏ bọc kín một lớp dày, bên ngoài lớp đất đỏ ấy là mấy tấm lưới được kết từ những sợi thừng màu đỏ đã phai màu.
“Tư… tư lệnh…” Một tên lính đi phía sau run rẩy nói, “Cái quan tài này chúng ta không thể đụng vào đâu!”
“Hả?” Tên quân phiệt đang ngẩn người ra nhìn, quay đầu lại nhíu chặt hai hàng lông mày hỏi: “Mày nhìn ra manh mối gì rồi à?”
“Tư lệnh, ngài nhìn những sợi thừng màu đỏ bên ngoài xem, hình như là được đặc chế để ngăn ngừa thi thể xảy ra thi biến thoát ra khỏi quan tài đấy.” Tên lính nuốt nước bọt, nét mặt đầy vẻ kinh hoảng.
“Ha ha, lão tử sợ trời, sợ đất, chứ đếch sợ cương thi cái chi cả!” Nói đoạn, hắn rút súng ra “pằng pằng” hai phát, bắn chuẩn xác vào sợi dây thừng, sợi dây lập tức đứt lìa ra.
“Gọi thêm mấy thằng nữa vào đây, ta cũng muốn xem bên trong rốt cuộc là có quái vật gì, con bà nó chứ.” Dứt lời, hắn xoay người đi ra ngoài, vì không phát hiện được thứ gì đáng tiền trong mộ huyệt, nên hắn muốn mở quan tài ra để nuốt cho trôi cái cục tức này.
Mộ huyệt không lớn, nhiều người quá cũng khó xoay sở. Tay quân phiệt bèn sai người dùng thuốc nổ mở rộng miệng hang thêm một chút, sau đó khiêng cỗ quách kia ra. Bận rộn suốt cả một đêm, đến khi trời sáng, mười mấy tên lính rốt cuộc cũng khiêng được cỗ quách cổ quái ra ngoài. Tay quân phiệt lại ra lệnh cạo hết lớp đất sét đỏ rắn bao bọc bên ngoài, kế đó, một cỗ quan tài màu đỏ rốt cuộc cũng xuất hiện trước mắt tất cả mọi người.
Tuy không biết niên đại cụ thể của cỗ quan tài này, nhưng điều khiến người ta kinh ngạc nhất là lớp sơn đỏ bên ngoài áo quan không ngờ lại được bảo tồn cực kỳ hoàn hảo, một sắc đỏ kỳ dị bóng bẩy chảy trên bề mặt quan tài, khiến người ta không khỏi thấp thỏm bất an.
Tay quân phiệt cười gằn mấy tiếng, sau đó sai người mở nắp áo quan ra. Bọn lính đều âm thầm kinh sợ, vì vậy không tên nào dám dùng sức, hồi lâu sau vẫn chưa mở được. Thấy vậy tay quân phiệt nổi trận lôi đình, mấy tên lính bấy giờ mới dốc hết sức, chỉ thoáng chốc đã bẩy được nắp quan. Sau khi di chuyển cái nắp dày phía bên trên, trong nháy mắt, một mùi hương lạ từ bên trong tỏa ra ngoài.
Tay quân phiệt hấp tấp chạy lại phía cỗ quan tài quái dị kia, đột nhiên hắn dừng phắt lại cách đó chừng hơn một mét, đôi chân như bị người ta đổ chì vào, không nhúc nhích được nữa, mắt hắn nhìn chằm chằm vào mép cỗ quan tài. Bên mép quan tài, không ngờ lại có một bàn tay gác lên.
Nhìn từ xa, đó chắc là bàn tay phụ nữ, nhỏ nhắn mà trắng muốt. Nhưng đây lại chính là điều khiến tay quân phiệt kinh sợ, dẫu sao cũng là một cái xác, tuy không rõ niên đại cụ thể, nhưng tính sơ sơ thì ít nhất đã phải trăm năm rồi, vậy mà cái xác không ngờ lại chẳng hề rữa nát.
Tay quân phiệt vô thức đặt tay lên khẩu súng lục đeo ở thắt lưng, nuốt nước bọt, ngừng lại giây lát, rồi ngoảnh đầu đánh mắt ra hiệu cho một tên lính lại xem rõ ràng. Nhưng trước sự việc quái dị như vậy, ai nấy đều mềm nhũn hai chân ra. Tên lính ấy nhanh trí, liền ra phía sau lôi tới một người làng, gí súng vào đầu anh ta.
“Mày…” Sau đó chỉ vào cỗ quan tài đã mở ở phía trước nói tiếp, “Đi xem xem có gì.”
Người làng ấy tuy cũng sợ, nhưng vì bị ép buộc, đành chầm chậm nhích về phía áo quan đang mở toang, rồi đứng lặng nhìn cái xác bên trong, chẳng nói câu nào.
“Bên trong có cái gì?” Tay quân phiệt sốt ruột hỏi.
“Bẩm lão tổng, một cái xác nữ.” Người làng chỉ vào quan tài nói.
Tay quân phiệt nhấc chân đi tới trước cỗ quan tài, không khỏi mừng rỡ ra mặt. Bên trong cỗ quan tài màu đỏ khổng lồ ấy có một cô gái đang nằm, cô ta vận đồ trắng, trên người quấn mấy vòng dây đỏ mỏng mảnh, tóc xõa ngang vai, hai mắt khép hờ. Nhưng quái dị nhất là hai cánh tay nữ tử này vươn lên trên, tựa hồ trước khi chết từng giãy giụa rất dữ. Bàn tay vừa nãy rơi xuống gác trên mép quan tài chính là tay trái của cô ta.
Tay quân phiệt đi hai vòng xung quanh cỗ quan tài, đánh giá nữ tử bên trong một lượt, muốn nhìn xem trên người cô ta rốt cuộc có bảo vật gì khiến thi thể trải qua trăm năm vẫn không mục rữa. Nhưng tìm kiếm hồi lâu, hắn phát hiện ra trên người nữ tử này thậm chí còn chẳng có lấy một chiếc nhẫn. Hắn bèn sai người khiêng cái xác ra khỏi áo quan, đặt trên chiếu cỏ đã trải sẵn bên cạnh, sau đó nhảy vào trong quan tài, muốn xem xét bên trong liệu có cơ quan hay hốc ngầm gì, hoặc che giấu sự vật thần bí gì hay không.
Nhưng tìm mãi cũng không có thu hoạch gì. Tay quân phiệt nổi cáu, liền lột sạch quần áo trên người cái xác nữ xuống. Lột hết quần áo ra vẫn không tìm được thứ gì đáng tiền, thấy sắc trời đã tối, tên quân phiệt bèn sai người cứ để cái xác lõa thể trên chiếu cỏ, bắt đầu quay ra nhóm lửa nấu cơm, chuẩn bị hôm sau dẫn đội ngũ rời khỏi thôn làng.
Bấy giờ tuy đã vào thu, nhưng cây cối trên núi vẫn ẩm ướt dị thường, lúc này tay quân phiệt chợt nhớ ra những quan quách rỗng không vứt ở gần đó tuy không có gì đáng tiền nhưng có thể chẻ ra làm củi đốt. Bốn mươi tư cỗ quan quách nhanh chóng tiêu tan trong đống lửa hừng hực, lúc ăn cơm, tay quân phiệt càng nghĩ lại càng tức, hắn đột nhiên nghĩ ra một phương pháp để phát tiết nỗi uất hận trong lòng: phân thây.
Cái xác chết tiệt ấy khiến bọn họ tốn bao nhiêu công sức, lần lữa ở đây mất hơn hai ngày trời, nghĩ thế, hắn liền sai người khiêng cái xác ra, không làm thì thôi, đã làm thì làm đến cùng, dứt khoát xẻ nó ra thành tám mảnh. Mấy tên lính nhận lệnh bèn chạy ra chỗ để xác, bọn chúng đóng trại cách chỗ để cái xác nữ ấy cũng không xa lắm, nhưng một khắc trôi qua mà chưa ai quay lại, làm tay quân phiệt đợi đến phát bực. Hắn đứng phắt dậy nói:
“Mấy thằng chúng mày đi với tao, bà nó chứ, mấy thằng ranh, khiêng cái xác cũng run lẩy bẩy!”
Nghe lệnh, mấy tên lính bên cạnh hắn đứng cả dậy, nhưng tên quân phiệt vừa nhấc chân lên, đột nhiên nghe thấy tiếng kêu kinh hãi từ chỗ đặt cái xác nữ nhân kia vẳng tới. Hắn lập tức rút súng ra.
Tiếng kêu nháy mắt đã bặt đi trong chốn thâm sơn, mấy tên lính ngơ ngác nhìn nhau, không tên nào không lộ vẻ kinh sợ. Lúc này, lại có thêm nhiều binh lính chạy ra khỏi doanh trại.
“Âm thanh vừa nãy từ đâu vang tới thế?”
“Con bà nó, có phải gặp ma rồi không?”
“Cái chỗ quái quỷ này không khéo lại có thứ ma quỷ gì nữa ấy chứ.”
Đám binh lính tụ tập lại một chỗ mồm năm miệng mười bàn tán, còn tay quân phiệt thì nhíu chặt mày, chậm rãi cất khẩu súng lục vào trong bao. Đúng lúc này, từ phía đặt cái xác lại vẳng tới tiếng súng nổ “pằng pằng pằng”, âm thanh không ngừng vang vọng giữa các khe núi. Tiếng trò chuyện huyên náo lập tức im bặt, tất cả mọi người đều kinh hoảng nhìn về hướng đó.
Tay quân phiệt lại rút súng ra, cao giọng gọi:
“Tập hợp, tất cả tập hợp hết con mẹ nó ra đây cho tao!”
Mệnh lệnh vừa phát ra, đám lính lập tức tập kết lại, cùng lúc đó, lại có mấy tiếng súng nữa vang lên. Tay quân phiệt nghĩ nhất định là xảy ra chuyện rồi. Đoàn quân đã tập hợp đủ, thủ lĩnh đi đầu, tất cả quân sĩ đều đạn dược sẵn sàng, chuẩn bị chiến đấu bất cứ lúc nào.
Bọn chúng vừa ra khỏi khu đất đóng quân, chợt phát hiện một cái bóng xiêu vẹo chạy về phía mình, ánh trăng trắng lấp lóa che mất nửa gương mặt kẻ đó, nhưng nhìn quần áo trên người thì không khó nhận ra, đây hẳn là một trong mấy tên lính vừa chạy đi vác cái xác. Tên lính đeo súng sau lưng, chắc đã bị thương nặng, lê từng bước loạng choạng về phía đoàn quân. Tay quân phiệt rảo nhanh bước chân, chạy tới trước mặt tên lính kia, tên lính liền ngã gục vào lòng hắn.
“Sao vậy? Mấy thằng đi với mày đâu rồi?” Tay quân phiệt vội vã hỏi.
“Chết… đều chết cả rồi!” Tên lính chỉ còn thoi thóp thở, trả lời.
“Sao mà chết?” Tay quân phiệt giận dữ gầm lên.
“Khỉ… khỉ…” tên lính trả lời một cách hàm hồ, tay quân phiệt đã nghe rõ, nhưng trong lòng lại chẳng hiểu gì cả, Bắc Mông ở phương Bắc, đừng nói là khỉ, thậm chí cả cọng lông khỉ cũng chẳng có, sao kẻ này lại đột nhiên phun ra một câu như thế.
“Mẹ mày nói cái gì thế? Khỉ hả?” Tay quân phiệt ra sức lắc tên lính, nhưng tên lính đã hôn mê bất tỉnh từ lúc nào. Thấy vậy hắn liền gầm lên với đội ngũ phía sau:
“Khiêng nó đi, nhất định phải cứu sống bằng được cho tao!”
Nói đoạn, hắn cầm súng dẫn theo đội ngũ chạy về phía Tứ Thập Tứ Trủng, từ xa đã ngửi thấy mùi máu tươi tanh tưởi xộc vào mũi. Lòng hắn nặng nề hẳn, bàn tay cầm súng rịn mồ hôi. Song hắn vẫn dẫn theo thuộc hạ đánh liều đi vào khu mộ, đưa mắt quan sát xung quanh một lượt, thấy có mấy cái xác nằm ngổn ngang cái gần cái xa, còn xác nữ nhân lõa thể nằm trên chiếu cỏ lúc này thì đã không rõ tăm tích.
Mấy tên lúc nãy đều đã chết rồi sao? Tình cảnh này khiến tất cả mọi người đều nín thở, cả đội ngũ hơn hai trăm người không ngờ lại im phăng phắc. Đúng lúc này, tay quân phiệt đột nhiên nghe thấy âm thanh “răng rắc, răng rắc”, liền đưa mắt nhìn về phía phát ra tiếng động ấy.
Cách chỗ hắn chừng bốn năm chục mét dường như có một người đang ngồi chồm hổm, dưới ánh trăng, hắn nhìn thấy rõ ràng kẻ kia xoay lưng về phía mình, trên người khoác một tấm áo da màu đen, đầu kẻ ấy trồi lên hụp xuống, tựa hồ đang làm gì đó.
Kẻ này là ai? Chắc chắn không phải một tên lính may mắn sống sót rồi, vậy thì có thể là ai? Tay quân phiệt thầm phỏng đoán, đúng lúc này, viên phó quan bên cạnh hắn đột nhiên cao giọng quát:
“Người phía trước kia, xoay lại đây, bằng không chúng ta sẽ nổ súng!”
Lời nói vừa dứt, liền nghe thấy đội ngũ phía sau phát ra tiếng mở chốt lên đạn lách ca lách cách, người phía trước hiển nhiên đã bị âm thanh này làm cho sững sờ, động tác liền dừng lại, nhưng không hề quay đầu.
“Mẹ nhà mày, có nghe thấy không hả? Còn không quay lại thì ông mày bắn đấy!” Nói đoạn, viên phó quan giơ súng lục lên nhắm bắn.
Đúng lúc này, tay quân phiệt cảm thấy chân mình đột nhiên bị thứ gì đó tóm chặt, hắn run bắn người, vội vàng cúi đầu nhìn, không ngờ lại là một tên lính sai đi lúc nãy, tên này chỉ hôn mê chứ chưa chết hẳn.
“Chạy, chạy!” Tên lính dốc hết chút hơi sức còn lại, nhưng âm thanh phát ra vẫn cứ hàm hồ khó nghe.
“Cái gì?” Tay quân phiệt lớn giọng nói.
“Chạy…” Tên lính đứt hơi khản tiếng hét lên, lần này thì tất cả mọi người đều nghe rất rõ, chỉ có điều, tiếng hét của hắn vừa dứt thì đã nghe thấy phía sau đội ngũ truyền lại mấy tiếng kêu thảm thiết.
Tay quân phiệt xoay người lại, phát hiện đội ngũ đằng sau đã trở nên hỗn loạn.
“Xảy ra chuyện gì vậy?” Tay quân phiệt cao giọng hét lớn, vừa dứt lời, sau lưng đột nhiên vẳng đến mấy tiếng súng, hắn ta cuống lên, rảo bước chạy lại phía sau, vừa chạy vừa lớn tiếng quát:
“Không được loạn động, tất cả không được loạn động!”
Hắn hi vọng đám lính có thể bình tĩnh trở lại, song đám binh lính đang trong cơn kinh hoảng đâu có thể nghĩ ngợi gì nhiều, giữ mạng mới là điều quan trọng nhất. Khi hắn chạy đến phía cuối đội ngũ, cả đám người đã loạn lên chẳng còn quy củ gì nữa, có mười mấy kẻ yếu ớt nằm gục dưới đất, quần áo trên người bị cào rách toạc, nhưng không nhận ra là thứ gì gây nên.
Đúng lúc này, một bóng đen thình lình lướt qua trước mắt, cái bóng ấy tựa như đứa trẻ mới lớn, thân hình rất giống một con khỉ đã trưởng thành, phi thân nhanh như cắt từ cây liễu cạnh đó xuống, lao thẳng vào tấn công một tên lính đang hoảng hốt tháo chạy. Tên lính lập tức ngã xuống, lăn lộn trên đất, một lúc sau, thân thể bắt đầu co giật dữ dội, quằn quại giây lát rồi không nhúc nhích gì nữa.
Hắn mãi nhìn đến ngơ ngẩn, không chú ý đến bản thân lúc này cũng đã rơi vào vòng nguy hiểm, chợt nghe bên tai vang lên tiếng gió vù vù, bấy giờ tay quân phiệt mới sực tỉnh ngộ, có điều tỉnh ra thì đã muộn, bóng đen kia đã đến gần hắn. Dục vọng cầu sinh của con người luôn có thể sáng tạo ra kỳ tích, hắn xoay người nhanh như chớp, nhằm bắn vào “con khỉ” phía sau lưng, “con khỉ” phản ứng cực nhanh, thân hình hơi lắc một cái đã tránh được viên đạn, song nó cũng không đánh trúng được tay quân phiệt.
Tay quân phiệt thấy tình hình không ổn vội co giò tháo chạy, trà trộn vào trong đám người. Đội quân hoảng loạn bị “con khỉ” chia cắt thành mấy đoạn, tay quân phiệt dẫn theo tầm năm chục lính, chạy được vài dặm thì mệt đến nỗi thở hồng hộc, toàn thân đầm đìa mồ hôi. Sau khi xác định “con khỉ” không đuổi theo, hắn mới ra lệnh cho toán quân nghỉ ngơi tại chỗ.
Kể ra cũng khéo, hôm ấy trời lại giáng một trận sương mù lớn, sương mù dày đặc khiến người ta không thể nhìn rõ ai với ai trong vòng năm mét. Đoàn người nghỉ ngơi được một lúc, song cũng lạc lối trong núi sâu ở Bắc Mông, nếu theo đường cũ vòng ngược trở về thì lại sợ chạm phải “con khỉ” kia, vì vậy bọn chúng đành phân mấy người canh đêm, những người khác tiếp tục nghỉ ngơi tại chỗ.
Tay quân phiệt đang ngủ say giấc, đột nhiên nghe thấy có tiếng súng nổ, hắn giật nảy mình từ dưới đất nhỏm dậy. Khi đó mới phát giác những người bên cạnh cũng đã bị tiếng súng đánh thức. Tiếng súng từ đằng trước truyền lại, và lại nghe như càng lúc càng đến gần bọn hắn.
Chẳng lẽ là người phe mình bị “con khỉ” kia tập kích? Nghĩ tới đây, hắn lập tức dẫn theo số lính ít ỏi còn lại đi tăng viện, nhưng vì sương mù dày đặc không nhìn rõ đường, đi chừng nửa khắc, đột nhiên trong màn sương vọt ra mấy cái bóng đen, kế đó lại có tiếng kêu thảm thiết vang lên.
Nhất định là bọn khỉ rồi, nghĩ tới đây, hắn liền lệnh cho binh lính lập tức nổ súng kháng cự, sau một loạt tiếng súng hỗn loạn, bóng đen trước mặt rốt cuộc cũng biến mất.
Một lúc sau, phương Đông bắt đầu hừng sáng, bọn chúng nghĩ lũ “khỉ” kia có lẽ cũng đã về ổ, bèn quay lại theo đường cũ, chuẩn bị trở về chỗ đóng quân. Chẳng ngờ, đi được chừng hơn năm chục bước thì phát hiện ra trước mặt có một đống xác người, toàn bộ đều là xác của binh lính trong đội ngũ. Thêm một điều nữa khiến tay quân phiệt càng thêm khó hiểu, đó là toàn bộ những binh lính ấy đều trúng đạn mà chết.
Hắn không khỏi lạnh sống lưng, chẳng lẽ những bóng đen đêm qua hắn trông thấy lại là những binh lính này sao? Hắn sai người kiểm tra lại tất cả những xác chết, đích thực đều mất mạng dưới họng súng của quân mình, tổng cộng có bảy mươi sáu người cả thảy.
Tay quân phiệt nôn nóng trở về doanh trại, nhưng lúc đi qua Tứ Thập Tứ Trủng lại phát hiện mấy tên lính chết đêm qua đều đã biến thành xương trắng, thịt và nội tạng đã biến mất. Tay quân phiệt cũng không dừng lại, khi hắn trở về doanh trại thì đã có một nhóm lính quay về trước. Hắn tìm viên quân y hỏi rõ về thương thế của tên lính bị thương đêm qua, quân y nói tên đó từ bấy đến giờ vẫn luôn sốt cao, lúc tỉnh lúc mê, vả lại vết thương đã bắt đầu rữa nát, thuốc chống viêm nhiễm bình thường hoàn toàn không có tác dụng.
Nghe quân y nói xong, hắn không nói không rằng chạy thẳng tới lều của tên lính kia. Tên lính đang nằm trên giường nói mớ:
“Tha cho tôi đi, tha cho tôi đi mà, không liên quan đến tôi.”
Tay quân phiệt tát một phát vào mặt tên lính, tên này hoảng hốt tỉnh lại nhìn thấy thủ lĩnh của mình, cơ mặt khẽ giật giật mấy cái, sau đó nước mắt trào ra:
“Tư lệnh, bọn họ chết thảm lắm!”
“Tối qua bọn mày gặp phải chuyện gì vậy?” Tay quân phiệt ấn cánh tay thuộc hạ xuống, hỏi: “Còn nữa, lũ ‘khỉ’ kia ở chỗ quái quỷ nào chui ra vậy?”
“Tôi cũng không biết, chúng tôi theo lệnh của ngài đi khiêng cái xác nữ về doanh trại, nhưng khi đến chỗ đặt cái xác thì phát hiện nó đã biến mất từ bao giờ, đang định quay trở về, đột nhiên từ trong một mộ huyệt nhảy ra một con quái vật trông như con khỉ, tốc độ cực nhanh, chúng tôi chưa kịp phản ứng gì thì đã có hai người ngã xuống. Tôi thấy tình thế không ổn, lập tức xoay người bỏ chạy, nhưng cái thứ quái quỷ ấy vẫn đuổi riết không buông,” Nói tới đây, tên lính nuốt nước bọt rồi tiếp lời, “Những người cùng đi hết người này đến người kia ngã xuống, thậm chí còn không kịp kêu lên một tiếng, đúng lúc cái thứ đó lao bổ tới tôi, tôi bèn xoay người bắn một phát, dường như nó rất sợ tiếng súng, thoắt cái đã biến mất. Tôi không dám chần chừ, lại tiếp tục chạy về phía trước, đột nhiên thứ đó xồ ra trước mặt, tôi chưa kịp phản ứng nó đã cắm một nhát vào vai trái. Tôi rút dao vung loạn xạ mới dọa được nó chạy, kế đó thì gặp lại mọi người.”
“Thì ra là thế.” Tay quân phiệt trầm ngâm nói.
Ngày hôm ấy, tay quân phiệt dẫn quân rời Bắc Mông, nhưng một tuần sau khi bọn hắn rời đi, Bắc Mông liền xảy ra thảm án, cứ đến đêm khuya là lũ quái vật giống như khỉ lại xuất hiện trong nhà người ta mà không ai hay biết, giết chết người trong nhà. Chỉ trong một thoáng ngắn ngủi, đã có hơn hai trăm người chết, rất nhiều người đang chuẩn bị rời khỏi Bắc Mông.
Đúng lúc ấy, ông tôi xuất hiện, ông tên là Phan Tuấn, lúc ông đến Bắc Mông, trời đang mùa thu, ông khoác trên người một chiếc áo bông màu đen. Sau khi hỏi thăm biết được chuyện xảy ra trong làng, ông nói với người làng, thứ quái vật trông giống khỉ ấy gọi là bì hầu. Chúng vốn sống ở trong núi sâu, chuyên ăn thịt thối. Nhưng vì chiến loạn kéo dài nhiều năm, người chết vô số, nhiều thi thể chưa được chôn cất đã thối rữa ra rồi, nên rất dễ dụ bọn bì hầu này đến.
Nhưng điều làm ông thấy kỳ dị là, mặc dù bộ dạng hung tàn, nhưng bì hầu lại rất hiếm khi chủ động tấn công con người, trừ phi… ông không nói nốt những lời phía sau, mà trực tiếp đến thẳng Tứ Thập Tứ Trủng. Khi nhìn thấy cây cối ở xung quanh, gương mặt ông thoáng hiện vẻ mừng rỡ.
“Thì ra là thế.”
Sau đó ông nói với trưởng làng, ở khu mộ địa Tứ Thập Tứ Trủng ấy có bốn mươi ba ngôi mộ giả, chỉ là để che giấu ngôi thứ bốn mươi tư. Trong ngôi mộ ấy chắc là có một cái xác nữ, thân vận đồ trắng, xung quanh người quấn dây đỏ, vả lại còn không bị mục rữa. Trưởng làng nghe thế cả mừng, ông tôi chưa từng đến đấy, vậy mà lại nói rõ được chi tiết như thế, nhất định đã biết được nguyên cớ bên trong.
Ông tôi nói cái xác đó là vật chẳng lành, sở dĩ trải bao năm tháng cũng không mục rữa chẳng phải nhờ có kỳ trân dị bảo gì, mà bởi trong cái xác ấy có một con sâu, con sâu này kí sinh trên thi thể nên mới có hiện tượng kỳ dị như thế. Loại sâu này là thiên địch của bì hầu, mỗi lần gặp phải thi thể như vậy, lũ bì hầu sẽ phát cuồng lên, nên mới chủ động tấn công con người.
Giờ lũ bì hầu cứ ở lại quanh thôn làng không chịu đi, là bởi cái xác ấy có lẽ đang được giấu trong làng. Trưởng làng hết sức kinh hãi, chưa bao giờ nghe qua trên đời này lại có chuyện ly kỳ đến vậy, thì ra nguyên nhân hiện tượng thi biến lại chỉ là một con sâu nhỏ. Mặc dù không hiểu nguyên cớ bên trong thế nào, song trưởng làng vẫn hỏi ông tôi cách để tìm được cái xác kia.
Ông tôi thở dài một tiếng, nói:
“Tôi đã tìm nó rất nhiều năm rồi, tôi có cách, nhưng tất cả mọi người cần phải nghe theo lệnh của tôi.”
Vậy là tối hôm đó, tất cả phụ nữ trong làng đều bị ông tôi tập hợp lại trong từ đường, đàn ông cầm cuốc canh giữ bên ngoài, bất luận xảy ra chuyện gì cũng không được tùy tiện xông vào. Cửa từ đường mở rộng, mỗi người phụ nữ đều cầm một nén hương, không được rời tay. Sau khi chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, ông tôi bèn nấp trên mái hiên của từ đường.
Tối hôm đó rất yên ả, mãi đến sau nửa đêm, đột nhiên ông tôi nhảy từ trên xà nhà xuống, hướng ra phía ngoài hét lớn:
“Đóng cửa!”
Những người đàn ông đã chuẩn bị sẵn sàng bên ngoài lập tức đóng chặt cửa từ đường lại, sau đó ông tôi bảo tất cả phụ nữ đứng thành một hàng, khi ấy bà nội ruột của tôi sắp sinh, ông đếm từ trái sang phải, cả làng vốn có bốn mươi lăm phụ nữ, nhưng giờ lại có thêm một người.
Ông tôi đi tới bên cạnh một cô gái trong số họ cười nói:
“Cô bước ra đi!”
Cô gái ấy mặt mày thanh tú, vận đồ trắng toát, cười khảy với ông tôi, không nói gì, ông đột nhiên rút ra một thanh đoản kiếm, nhưng cô gái ấy phản ứng cũng rất nhanh, lập tức lùi lại mấy bước tránh được.
Ông nội liên tiếp áp sát cô gái đó, cô ta dường như muốn tóm lấy một người làm bia chắn, nhưng mỗi lần gặp phải que hương trên tay những người khác là lại rụt tay về. Đúng lúc này, bà nội tôi đột nhiên lâm bồn, cơn đau kịch liệt khiến que hương trên tay bà rơi xuống đất. Cô gái kia nhanh tay nhanh mắt, lập tức bổ về phía bà.
Nói thì chậm, lúc đó sự việc diễn ra rất nhanh, tuy rằng đoản kiếm trong tay ông tôi cực nhanh, nhưng rốt cuộc vẫn ở phía sau, trong khoảnh khắc cô gái kia ôm chặt bà nội, đoản kiếm của ông cũng đâm vào cơ thể cô ta. Chớp mắt, làn da cô gái kia trở nên nhăn nheo, mái tóc cũng bạc trắng như tuyết.
“Chậc, vẫn bị chậm mất một bước.” Ông tôi thở dài.
Sau đấy, ông tôi nói với trưởng làng, con sâu ấy đã chui vào cơ thể bà nội tôi rồi, loài sâu này gặp máu nóng sẽ lập tức chìm vào giấc ngủ, cho tới khi người qua đời mới tỉnh lại, vì vậy lũ bì hầu kia không ngửi thấy mùi của con sâu, cũng sẽ không đến quấy nhiễu thôn làng nữa. Có điều, con sâu có thể theo đứa bé truyền đến đời sau, vì vậy mỗi đứa trẻ sau khi sinh ra đều phải kiểm tra, để xem con sâu này rốt cuộc ở trong thân thể ai. Trưởng làng lo lắng con sâu ấy lại làm loạn nữa, bèn giữ ông tôi ở lại.
Nghe cha kể xong, tôi dường như cũng hiểu được một chút.
“Đi thôi, sắp về đến quê rồi.” Nói đoạn, cha tôi vứt đầu mẩu thuốc trên tay đi, mở cửa xe. Chỗ này cách quê tôi chỉ mười mấy cây số, nhưng đường núi gập ghềnh khó đi, xe cứ xốc nẩy không ngừng.
Thực tế, Bắc Mông không hề hẻo lánh, nhưng bao lâu nay vẫn rất đói nghèo, mới năm 2004, một đám người từ nơi khác đến, mang theo rất nhiều trang thiết bị, bọn họ phát hiện dưới lòng đất Bắc Mông có một lượng khoáng sản lớn, vậy là cư dân quanh vùng tựa như đột nhiên hứng được dòng cam lộ đã lâu lắm rồi mới chảy xuống.
Tiếp đó là các loại máy móc cỡ lớn tiến vào, từng mỏ khai khoáng lớn nhỏ xuất hiện ở Bắc Mông như nấm mọc sau mưa, ngôi làng vùng núi xưa nay vốn thanh bình yên tĩnh tựa như sau một đêm đã trở nên ồn ào huyên náo. Công nhân mặc đồ bảo hộ lao động đủ màu đi lại trên những con đường quê nhỏ bé.
Chiếc xe nhanh chóng lái vào Bắc Mông, nhưng tôi kinh ngạc nhận ra những ngôi nhà trong ký ức giờ đây đã biến thành đống hoang tàn đổ nát, mấy cái máy xúc đang ra sức ra oai với mấy căn nhà vẫn còn đứng đó.
“Bố, thế này là thế nào?” Tôi chỉ phía trước hỏi.
“À, sang năm có lẽ Bắc Mông sẽ không còn tồn tại nữa rồi.” Cha tôi thở dài một tiếng, sau đó nhấn chân ga, “Nơi này đang giải tỏa, Bắc Mông sắp bị xóa sổ.”
Câu nói của cha làm lòng tôi chợt gợn lên một cảm giác buồn thương man mác. Bắc Mông, có lẽ đây là lần cuối cùng ta nhìn thấy ngươi rồi. Căn nhà của ông tôi nằm ở sâu tít trong cùng làng Bắc Mông, cái sân không rộng, những khối đá thấp lè tè trộn với đất bùn làm thành một bức tường bao thấp quây quanh, gần cổng có một cái giếng, miệng giếng có khí lạnh bốc lên, hồi nhỏ mỗi khi đi tới cạnh cái giếng này, tôi luôn thấy bất an.
Cha dừng xe ngoài cổng, bước xuống, khẽ đẩy cánh cổng gỗ, liền nghe thấy mấy tiếng gà kêu. Cánh cổng mở, đúng lúc này một ông già cũng đang mở cửa nhà đi ra, đó chính là ông nội tôi… ông già thần bí đó. Ông khoác một chiếc áo bông màu đen, miệng ngậm tẩu thuốc.
“Về rồi đấy à?” Ông vừa nói vừa đi về phía hai cha con tôi, có điều, ông rõ ràng đã già thêm, bước chân loạng choạng, gương mặt lộ ra nụ cười mà trước đây tôi chưa từng trông thấy.
Ông dẫn hai chúng tôi vào nhà, căn nhà rất đơn sơ, chỉ có một cái kháng đất (một loại giường bằng đất, rất phổ biến ở vùng Đông Bắc Trung Quốc), mấy cái tủ màu đỏ không biết làm bằng thứ gỗ gì, và một bộ bàn ghế cũ rích, ngoài ra không còn vật gì khác.
Ngồi trên kháng đất, ông rót cho cha con tôi hai chén trà, một mùi hương dễ chịu thoang thoảng phả vào mũi. Ông ngồi đối diện với chúng tôi, nói qua loa dăm ba câu chuyện, rồi bảo cha tôi:
“Anh ra ngoài loanh quanh một lúc đi, ta có chuyện cần nói riêng với Mộc Dương.”
Cha tôi gật đầu, đưa mắt nhìn tôi, sau đó đẩy cửa đi ra ngoài.
Ông tôi khẽ ho vài tiếng, rủ rỉ nói:
“Mộc Dương, những gì ta nói với cháu hôm nay, cháu phải nhớ cho kỹ.”
Tôi nghe mập mờ, nhưng vẫn khẽ gật đầu.
“Cháu đã bao giờ nghe nói đến khu trùng sư (thuật sư điều khiển côn trùng) chưa?” Ông hỏi tôi.
Tôi vội lắc đầu, khu trùng sư? Tôi có nghe nói đến phong thủy sư, tướng học sư, nhưng khu trùng sư này rốt cuộc là cái gì chứ?
“Cháu xem, thực ra, côn trùng trong thiên hạ này tuy có hàng trăm nghìn loài khác nhau, nhưng tất cả đều không nằm ngoài ngũ hành, tức là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.” Ông tôi nói bằng giọng thản nhiên, “Các loài côn trùng mà người bình thường chúng ta thấy đa phần thuộc hệ Mộc, vả lại những thứ côn trùng này cũng không gây tổn hại đối với con người cho lắm, nhưng bốn hệ kia thì khác.”
“Dạ?” Trước đây tôi chưa bao giờ nghe nói đến kiểu phân loại côn trùng ly kỳ như vậy, kể cả bây giờ nếu nghe lại cũng vẫn cảm thấy mới mẻ như lúc đầu.
“Cháu hiểu à?” Ông tôi lộ vẻ mừng rỡ.
“Hình như… nhưng vẫn không hiểu cho lắm.” Tôi do dự đáp.
“Ha ha!” Đây là lần đầu tiên tôi thấy ông cười lớn như thế, đoạn ông đứng dậy đi tới cái tủ gỗ cạnh đó, cẩn thận mở cửa tủ, trong nháy mắt, một mùi hương thơm ngát từ bên trong tỏa ra. Mùi hương ấy rất quái dị, nhưng quả thực rất thơm. Thoáng sau đó, mấy con gà trống bên ngoài bắt đầu chộn rộn hết cả lên.
Ông tôi lục lọi trong tủ hồi lâu, lấy ra một cái hộp gỗ nhỏ, tuyền một màu đen, liền lạc thành một khối, nhìn trơn bóng nhẵn nhụi, mùi hương kia chính từ đó tỏa ra. Ông đặt cái hộp trước mặt tôi, nói:
“Mộc Dương, con trùng ở trong này thuộc hệ Thổ.”
Tôi lại càng tò mò, con trùng thuộc hệ Thổ rốt cuộc thế nào.
“Con trùng trong hộp này biết độn thổ, rất khó bắt được nó trong lòng đất, nhưng vì ngũ hành tương sinh tương khắc, nó sợ nhất là mộc, nên nếu bỏ vào cái hộp gỗ này thì nó không thể thoát được. Nào, cháu mở ra xem đi.” Ông tôi đẩy nhẹ cái hộp gỗ tới trước mặt tôi. Tôi thoáng do dự, nuốt nước bọt rồi nhẹ nhàng mở hộp ra. Có một quả trứng năm màu to như trứng chim cút ở bên trong hộp, nhưng lạ một điều là, mùi hương cổ quái lúc nãy lại nhạt đi rất nhiều.
“Thứ trùng này gặp gỗ liền co rút lại, hình thành một lớp vỏ dày bên ngoài, nhưng hễ gặp đất lớp vỏ sẽ tan biến trong thời gian rất ngắn, sau đó nó biến thành con sâu.” Ông vừa nói vừa khom người nhón một ít đất dưới sàn lên, cẩn thận bỏ vào hộp.
Tôi tròn mắt nhìn chằm chằm vào con sâu bên trong, chỉ một chốc sau, liền phát hiện nó rung lên nhè nhẹ, mới đầu tôi còn tưởng mình bị ảo giác, không lâu sau, con sâu càng lúc càng rung mạnh hơn, qua vài phút thì nghe một tiếng “rắc” nhẹ, lớp vỏ cứng trên mình nó tách ra.
Thật không thể tưởng tượng nổi, một cái đầu màu hồng phấn từ bên trong chui ra, nhưng không có mắt, nó nhanh chóng ăn sạch chỗ vỏ còn lại, trở nên béo búp trắng mịn như con nhộng tằm.
“Đây chính là...” Tôi kinh ngạc thốt lên.
“Đúng.” Nói đoạn, ông tôi ấn lên con sâu, sau đó đổ đất trong hộp đi, chỉ thấy thân thể con sâu như bị kích thích, nhanh chóng co rút, thoắt cái, lớp da bên ngoài đã lại biến thành một lớp vỏ cứng.
“Thần kỳ quá, tại sao trước đây cháu chưa từng nghe nói những chuyện này nhỉ?” Tôi trố mắt ra nhìn ông hỏi.
Ông thở dài, nói:
“Hôm nay ông gọi cháu đến là muốn kể cho cháu nghe một số chuyện về ông và những con trùng này.”
“Về ông?” Tôi kinh ngạc thốt lên.
“Ừm, những ký ức ấy đã phủ bụi mấy chục năm, ông nghĩ nếu còn không nói ra, thì e là không có thời gian nữa.” Giọng ông đượm vẻ thê lương.
“Tất cả chuyện này nên bắt đầu từ người tử tù ông gặp vào mùa hạ năm đó.” Ông tôi thở dài một tiếng, sau đó châm một điếu thuốc.
Sở dĩ tôi thêm dấu ngoặc kép bên ngoài hai chữ ông nội, là vì ông không phải ông nội ruột của tôi, hoặc có thể nói, tôi không có quan hệ máu mủ ruột rà với ông. Chỉ là cha tôi vì một số nguyên nhân nên đã đổi sang họ của ông, ngay cả cái tên Phan Mộc Dương của tôi cũng là do ông đặt cho.
Trong ấn tượng của tôi, ông nội luôn là một người thần bí, bất kể mùa đông hay mùa hè ông cũng đều mặc một chiếc áo bông màu đen rách rưới lòi cả bông bên trong ra, tóc tai bù xù, ánh mắt xa xăm, nét vui vẻ dường như không thuộc về gương mặt ấy. Ông sống trong một gian nhà cỏ sâu tít trong làng, cách những nhà khác vài trăm mét. Vườn nhà ông không rộng lắm, nhưng có nuôi mấy con gà trống lông bóng mượt.
Người làng rất ít qua lại với ông nội tôi, nhưng mọi người đều vô cùng kính trọng ông. Nguyên nhân chủ yếu là vì ông có biết tài xem âm trạch (chọn phần mộ cho người chết). Ông có rất nhiều quy củ, nếu không phải là kẻ hữu duyên thì dẫu trả nhiều tiền mấy cũng không lay động nổi.
Hồi nhỏ ở quê, tôi từng sống với ông nội một thời gian, nhưng tôi thực không muốn nhớ lại đoạn ký ức ấy. Về sau, tôi đi học bên ngoài, rồi không có tin tức gì của ông nữa, có lẽ là vì ông không phải ông nội ruột của tôi, sau khi ông nội ruột qua đời, tôi có cảm giác ở quê không còn người thân nào nữa, nên cũng không còn quan tâm đến quê nhà.
Mãi đến mùa thu năm 2008, đúng vào lúc khủng hoảng tài chính xảy ra, tôi không may bị mất việc. Tôi đang trốn trong nhà, gửi đơn xin việc đi khắp nơi mà không có kết quả thì cha tôi đột nhiên gọi điện thoại tới. Qua điện thoại, cha bất ngờ nhắc đến ông nội, bấy giờ tôi mới nhớ tới ông già đó. Cha nói với tôi: ông bị ung thư phổi, lúc phát hiện thì đã đến giai đoạn cuối rồi, bệnh viện đã gửi thông báo bệnh tình nguy cấp, nếu tôi không bận quá nhiều việc, mấy hôm nữa hãy cùng cha trở về thăm ông nội.
Về chuyện của tôi hồi nhỏ, thực tế là ông già vẫn luôn thấy áy náy với tôi, nói xong, cha tôi gác máy. Đặt điện thoại xuống, tôi nhìn chiếc đồng hồ đeo trên cổ tay trái, nơi cổ tay vẫn còn hai vết sẹo nhỏ rõ mồn một.
Dẫu sao người cũng đã già rồi, tôi nghĩ cũng nên quay về thăm ông một chuyến. Nghĩ tới đây, tôi gọi lại cho cha, nói lúc nào cha về quê tiện thể qua đón tôi.
Ba ngày sau, cha lái xe đến đón tôi. Hai cha con cũng hơn nửa năm nay không gặp nhau, quãng thời gian nửa năm đã khiến người cha hơn năm mươi tuổi của tôi trông già hẳn đi. Kỳ thực, không phải tôi không muốn về nhà thăm họ, chỉ là vì vết thương trên cổ tay tôi.
Do mấy hôm trước trời đổ một trận mưa thu, nên sau khi ra khỏi đường cao tốc, chiếc xe cứ tròng trành trên con đường núi lầy lội, cả tôi lẫn cha đều trầm mặc không nói năng gì. Có lẽ vì bầu không khí quá ngột ngạt, cha mới ngập ngừng lên tiếng:
“Mộc Dương, con… gần đây vẫn khỏe chứ?”
Đương nhiên tôi hiểu được ngụ ý của cha, ông nói “khỏe chứ” là chỉ vết thương trên cổ tay tôi. Tôi miễn cưỡng rặn ra một nụ cười mỉm, đáp:
“Khỏe nhiều rồi, đã mấy tháng nay không phát bệnh nữa.”
Kế đó, bầu không khí trong xe lại rơi vào im lặng, một lúc sau, cha đưa cho tôi một điếu thuốc, rồi tự ông cũng châm một điếu, rít mạnh một hơi, cho xe chạy chậm lại:
“Trong lòng con có phải vẫn luôn oán trách ông ấy hay không?”
Lời cha nói làm tôi run rẩy, có lẽ hận một người sâu nhất chính là hoàn toàn quên mất con người ấy. Tôi không nói năng gì, rít một hơi thuốc sau đó quay đầu ra phía ngoài xe, bên ngoài là một dãy núi cao trải dài.
“Thực ra ông ấy vẫn luôn nghĩ cách để bù đắp.” Cha tôi điềm đạm nói.
Tôi không tỏ thái độ gì, “Khịt” một tiếng trong mũi, sau đó tiếp tục chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ, nước mắt đã trào ra khóe mắt.
“Bố, về ông ấy, bố biết được chừng nào?” Tôi đột nhiên hỏi.
Cha tôi khẽ run lên, thực ra, tôi biết cha tôi, thậm chí là ông nội ruột của tôi cũng nắm được rất ít về ông già ấy, không ai biết ông đến từ đâu, nghe người ta nói ông đến vào mùa thu một năm nọ, chỉ mặc chiếc áo bông màu đen đó, trên người không có của cải nào khác, ngoài một chiếc hộp nhỏ màu đen, to bằng bàn tay, đeo ở thắt lưng. Ông đến làng tôi, và ở lại.
“Mộc Dương… thực ra có rất nhiều chuyện con không biết!” Cha tôi thở dài nói, “Nếu bố nói với con những lời này, con nhất định sẽ cảm thấy giống như chuyện cổ tích, nhưng đó chính là sự thật đấy.”
“Khục khục,” tôi cười khinh khỉnh, không tin trên thế giới này lại có chuyện gì khiến tôi cảm thấy giống như cổ tích.
“Sở dĩ ông ấy ở lại làng, không phải vì ông ấy không có nhà để về, mà là người trong làng không thể để ông ấy đi.” Cha tôi cắn môi nói.
Câu nói này của cha đúng là nằm ngoài dự liệu của tôi, vốn dĩ tôi vẫn luôn cho rằng ông ấy mặt dày mày dạn không chịu rời khỏi nơi đây, chẳng ngờ sự thực lại như vậy.
“Nhưng mà… nhưng mà tại sao chứ?” Tôi nghi hoặc ngước nhìn cha.
Cha tôi dừng xe lại, sau đó ra hiệu cho tôi ra khỏi xe, lúc này đã vào cuối thu, trời lại mới đổ một trận mưa, bên ngoài hơi lành lạnh. Cha tôi dựa vào cửa xe ném cho tôi một điếu thuốc, tự mình cũng thong thả châm một điếu, sau đó chỉ tay vào ngọn núi trước mặt:
“Mộc Dương, con thấy ngọn núi kia không?”
Tôi nhìn cha với ánh mắt khó hiểu, sau đó ngước nhìn theo hướng ngón tay ông chỉ, chỉ thấy một ngọn núi cao cằn cỗi, ở lưng chừng núi chi chít bia mộ màu trắng, nằm lẩn khuất giữa đám cỏ dại.
“Có thấy những mộ phần trên núi đó không?” Cha tôi tiếp tục nói.
“Vâng…” Tôi vâng dạ gật đầu.
“Ở đó tổng cộng có hai trăm bảy mươi bảy ngôi mộ, hai trăm bảy mươi bảy người này đều chết trong một tháng.” Cha tôi lại rít mạnh một hơi thuốc, “chết vì thi biến.”
“Thi biến?” Tôi kinh hãi lặp lại, trố mắt nhìn cha như không thể tin nổi, thầm nhủ, chẳng lẽ trên thế giới này có chuyện thi biến thật sao?
“Con thấy khó tin lắm phải không?” Cha tôi điềm đạm nói.
Tôi vội gật đầu, đợi cha kể tiếp. Một hồi lâu cha mới chậm rãi cất tiếng, suốt nửa tiếng đồng hồ sau đó, tôi nghe mà chỉ biết trợn mắt há miệng, cơ hồ không dám tin đây là những lời thốt ra từ miệng cha mình, bởi lẽ cha tôi là người không bao giờ nói dối, vì vậy tôi buộc lòng phải tin những lời ông nói. Nhưng chuyện này lại quá đỗi lạ lùng.
Chuyện xảy ra vào cuối thời Dân quốc, để bổ sung binh lực cho quân đội, các lộ quân phiệt lớn nhỏ đều đi khắp nơi bắt trai tráng, tất nhiên quê nhà Bắc Mông của tôi cũng không thoát khỏi số phận đó. Đám quân phiệt này chẳng những bắt trai tráng, còn muốn cướp bóc vơ vét một phen, nếu trên mặt đất không có, các vị lão gia quân phiệt ấy sẽ đào mộ quật mã người lên.
Tất nhiên, bọn họ tuyệt đối không dùng các thủ pháp ôn tồn như đám trộm mộ chuyên nghiệp, mặc kệ đó là mộ huyệt kiên cố vững chãi chừng nào, chỉ cần mấy cân thuốc nổ là có thể khoét ra một cái hầm lớn. Bắc Mông vốn là một ngôi làng nghèo xác xơ ở trên núi, nhưng trong làng lại có một khu mộ địa rất lớn, người làng gọi là khu Tứ Thập Tứ Trủng (Bốn mươi tư mộ).
Quân phiệt bắt trai tráng xong liền nhắm vào khu mộ trên núi ấy, kể ra thì khu mộ địa này cũng có thể coi là đất báu phong thủy, ba mặt được núi non bao bọc, một mặt hướng ra phía có nước. Chẳng những vậy, trong khu mộ còn có rất nhiều thủy liễu sum suê tươi tốt. Không biết những cây liễu ấy rốt cuộc là giống gì, dù giữa mùa hạ nóng bức, trong rừng liễu cũng hiếm khi thấy có côn trùng. Người trong làng mỗi khi đi qua khu mộ ấy đều cảm thấy từng đợt khí lạnh từ bên trong ùa ra.
Vì lẽ đó, dân làng tôn kính khu mộ này như thần linh vậy, trừ tiết Thanh Minh, Đông Chí ra tuyệt đối không dám tùy tiện đặt nửa bước chân vào bên trong. Tay quân phiệt nghe nói khu mộ này dẫu vào mùa hè cũng không có côn trùng, thì càng thêm tò mò, thầm nghĩ bên dưới mộ địa ắt hẳn phải giấu bảo bối trân kỳ gì đây.
Vậy là, hắn ta dẫn theo hơn một trăm người phong tỏa khu mộ lại, chia thành từng nhóm bắt đầu khai quật. Mộ huyệt ở làng này không có nhiều cơ quan đường ngầm và tầng tầng lớp lớp cạm bẫy chống trộm như mộ của các nhà quyền quý, mà chẳng qua chỉ là một nắm đất, bên trên đặt thêm mấy tảng đá, sơ sài đến mức cả bia mộ cũng miễn luôn, có mộ còn không có cả đá lên. Đào những mộ huyệt kiểu này thậm chí còn không phải dùng đến thuốc nổ.
Đám quân sĩ làm việc cật lực, tiến độ cũng rất nhanh, chỉ mất có một ngày từ sáng sớm đến chập tối, bốn mươi ba ngôi mộ đã quật ra. Nhưng điều khiến chúng kinh ngạc là, bên trong bốn mươi ba ngôi mộ ấy lại trống không, đừng nói là bảo bối quý hiếm, ngay cả mấy mảnh xương cốt mục nát cũng chẳng thấy đâu.
Điều này càng khiến tay quân phiệt thêm tò mò với khu mộ địa, rốt cuộc là ai đã đào nhiều mộ trống đến thế ở chốn khỉ ho cò gáy này? Những mộ trống ấy đều là mộ giả, hẳn để che giấu ngôi mộ thật sự rồi. Vả lại, khu mộ địa này được gọi là Tứ Thập Tứ Trủng, giờ mới đào được bốn mươi ba ngôi mộ, vậy ngôi mộ cuối cùng rốt cuộc ở đâu?
Đầu lĩnh quân phiệt một mặt dặn dò quân sĩ đào bới trong rừng liễu, nôn nóng muốn tìm thấy ngôi mộ cuối cùng. Mặt khác, hắn ta gọi những người già trong làng Bắc Mông đến tra hỏi xem ngôi mộ cuối cùng ở đâu. Nhưng nơi này mặc dù gọi là Tứ Thập Tứ Trủng, song cũng chỉ do từ đời tổ tiên đã gọi như vậy thôi, chẳng có ai từng kiểm tra xem rốt cuộc có bao nhiêu ngôi mộ.
Ai nói đám quân phiệt đều chỉ là hạng giá áo túi cơm, bất tài vô dụng? Tay quân phiệt này thực sự cũng có chút thủ đoạn, hắn ta đột nhiên phát hiện không chỉ riêng khu mộ địa này quái dị lạ thường, mà cả những cây liễu trong khu mộ cũng được trồng một cách rất kỳ dị. Thoạt nhìn qua, trông có vẻ lộn xộn không theo quy củ nào, nhưng tính toán kỹ lại thì không khó nhận ra, khoảng cách giữa hai cây cạnh nhau về đại thể là tương đồng, toàn bộ đều cách nhau năm bước chân, và tất cả các ngôi mộ giả đều vừa khéo nằm giữa hai thân cây.
Hắn đảo mắt một vòng nhìn quanh, ánh mắt đột nhiên dừng lại ở một khoảng đất trống cách đó không xa lắm. Chỉ riêng khoảng đất trống giữa hai cái cây đó là không có mộ giả, có điều, mặt đất đã bị đám binh sĩ đào mấy cái hố sâu nửa mét. Tay quân phiệt nhìn ngó một hồi, liền hạ lệnh cho mấy tên lính đi tới tiếp tục đào sâu xuống nữa.
Lúc bắt đầu đào bới thì đã là chập tối, tay quân phiệt ra lệnh đốt lửa nấu cơm luôn tại khu mộ, còn bản thân hắn thì cứ ngồi chồm hổm bên cạnh hố sâu quan sát tình hình bên trong.
Lại nói mấy tên lính đào bới chừng hơn nửa canh giờ (khoảng hơn một tiếng), cái hố đã được mở rộng ra hai mét, sâu hơn một mét, cuốc chim trên tay đột nhiên phát ra một tiếng “kịch” trầm đục, tựa như chạm phải vật cứng gì đó. Lưỡi cuốc làm bằng gang đã gãy ra làm đôi.
Tay quân phiệt cả mừng, nhảy phắt xuống dưới hố sâu, cầm một cây đuốc soi xem rốt cuộc là gì, chẳng ngờ vừa xem, hắn không khỏi giật nảy mình kinh hãi. Trước mắt hắn là cái rãnh sâu do lưỡi cuốc để lại, nửa mảnh cuốc cắm bên trong, để lộ ra chỗ vỡ màu trắng. Hắn sai người rút ra, ai ngờ nửa mảnh cuốc bằng gang lại không hề nhúc nhích, cứ như thể đã được khảm vào trong cái rãnh.
Bên dưới rốt cuộc là thứ gì vậy? Không ngờ lại có sức mạnh như thế. Hắn ta càng thêm tò mò, lập tức sai thêm mấy người nữa nạy nửa mảnh cuốc kia ra. Sau khi xem xét kỹ càng, đầu nhọn của nửa lưỡi cuốc vừa rút ra chỉ dính một ít đất bùn khô màu đỏ, hoàn toàn không hề có dấu vết kim loại bị cọ xát mà trắng như trong dự đoán.
Bên trong rốt cuộc là thứ gì? Nghĩ tới đây, hắn liền sai người lấy thuốc nổ, mặc xác bên dưới là cái gì, kể cả có là bê tông cốt thép hẳn cũng khó mà chịu được uy lực của thuốc nổ chứ? Thuốc nổ được nhét vào bên trong, sau khi châm lửa, cả đám người chạy ra xa nấp kín. Sau một tiếng nổ lớn, bên trong hố sâu cuộn lên một đám bụi cát màu đỏ.
Tay quân phiệt tấp tểnh chạy tới chỗ cái hố, nhưng khi đến miệng hố, nét mặt đang rạng rỡ của hắn thoắt cái đã chuyển thành kinh ngạc khôn tả. Dẫu thế nào, tay quân phiệt cũng không thể ngờ đến cảnh tượng mà hắn nhìn thấy trước mắt: bụi cát màu đỏ tan đi hết, tầng đất đỏ bên dưới hố sâu không ngờ chỉ bị nổ ra một cái hốc nhỏ, cỡ bằng cái xô xách nước.
“Con bà nó, đất này cũng cứng thật đấy.” Tay quân phiệt hằn học nói, “Cho nổ tiếp…”
Nghe dứt lời, mấy gã công binh liền nhảy xuống hố, chỉ một chốc sau, lại có tiếng nổ vang trời, lần này âm thanh còn lớn hơn lần trước nhiều, chắc hẳn đã tăng thêm lượng thuốc nổ. Lại một đợt bụi cát đỏ bay mù mịt, tay quân phiệt chạy tới miệng hố xem xét lần nữa, cái hốc lúc này đã bị nổ toác ra to như miệng cái ang, hắn ta ngồi xổm xuống rìa hố, cầm một mảnh đất màu đỏ vừa bị nổ bắn ra, đưa lại gần cây đuốc quan sát cẩn thận, cũng không nhận ra có điểm gì đặc biệt, chỉ là không hiểu tại sao lại cứng rắn nhường ấy, gang thép cũng bị nó làm cho gãy lìa.
“Nổ thêm lần nữa.” Tay quân phiệt ném cục đất trên tay sang bên cạnh, châm ngòi nổ, ánh mắt nhìn chằm chằm vào hố sâu ở cách xa năm mươi mét phía trước. Sau một tiếng “ầm” trầm đục, hắn ta bỗng nhiên cảm thấy mặt đất dưới chân mình thình lình rung lên một chập.
Hắn biết chắc chắn là đã nổ ra chỗ trống, liền ba chân bốn cẳng chạy tới, quả nhiên, bên dưới hố xuất hiện một cái hang sâu hun hút, gió lạnh âm u từ trong cửa hang thổi ra thốc vào mặt. Tay quân phiệt cả mừng, lập tức sai người cầm đuốc đến, rút súng lục ra, gọi hai dân làng Bắc Mông, ép họ đi vào trong huyệt động trước.
Sau khi họ đi vào, tay quân phiệt dẫn theo hai tên lính cùng cầm đuốc tiến vào theo. Mộ huyệt này không lớn cho lắm, diện tích chỉ khoảng ba chục mét vuông, bên trong rất sạch sẽ, không có dấu vết từng bị trộm mộ, nhưng lại cũng không có bảo bối quý giá gì. Sâu tít bên trong cùng mộ huyệt có một cỗ quách màu đỏ.
Cỗ quách này lưng hướng Bắc, mặt hướng Nam, to gấp đôi quan quách thường thấy, mặt ngoài trét đất sét đỏ bọc kín một lớp dày, bên ngoài lớp đất đỏ ấy là mấy tấm lưới được kết từ những sợi thừng màu đỏ đã phai màu.
“Tư… tư lệnh…” Một tên lính đi phía sau run rẩy nói, “Cái quan tài này chúng ta không thể đụng vào đâu!”
“Hả?” Tên quân phiệt đang ngẩn người ra nhìn, quay đầu lại nhíu chặt hai hàng lông mày hỏi: “Mày nhìn ra manh mối gì rồi à?”
“Tư lệnh, ngài nhìn những sợi thừng màu đỏ bên ngoài xem, hình như là được đặc chế để ngăn ngừa thi thể xảy ra thi biến thoát ra khỏi quan tài đấy.” Tên lính nuốt nước bọt, nét mặt đầy vẻ kinh hoảng.
“Ha ha, lão tử sợ trời, sợ đất, chứ đếch sợ cương thi cái chi cả!” Nói đoạn, hắn rút súng ra “pằng pằng” hai phát, bắn chuẩn xác vào sợi dây thừng, sợi dây lập tức đứt lìa ra.
“Gọi thêm mấy thằng nữa vào đây, ta cũng muốn xem bên trong rốt cuộc là có quái vật gì, con bà nó chứ.” Dứt lời, hắn xoay người đi ra ngoài, vì không phát hiện được thứ gì đáng tiền trong mộ huyệt, nên hắn muốn mở quan tài ra để nuốt cho trôi cái cục tức này.
Mộ huyệt không lớn, nhiều người quá cũng khó xoay sở. Tay quân phiệt bèn sai người dùng thuốc nổ mở rộng miệng hang thêm một chút, sau đó khiêng cỗ quách kia ra. Bận rộn suốt cả một đêm, đến khi trời sáng, mười mấy tên lính rốt cuộc cũng khiêng được cỗ quách cổ quái ra ngoài. Tay quân phiệt lại ra lệnh cạo hết lớp đất sét đỏ rắn bao bọc bên ngoài, kế đó, một cỗ quan tài màu đỏ rốt cuộc cũng xuất hiện trước mắt tất cả mọi người.
Tuy không biết niên đại cụ thể của cỗ quan tài này, nhưng điều khiến người ta kinh ngạc nhất là lớp sơn đỏ bên ngoài áo quan không ngờ lại được bảo tồn cực kỳ hoàn hảo, một sắc đỏ kỳ dị bóng bẩy chảy trên bề mặt quan tài, khiến người ta không khỏi thấp thỏm bất an.
Tay quân phiệt cười gằn mấy tiếng, sau đó sai người mở nắp áo quan ra. Bọn lính đều âm thầm kinh sợ, vì vậy không tên nào dám dùng sức, hồi lâu sau vẫn chưa mở được. Thấy vậy tay quân phiệt nổi trận lôi đình, mấy tên lính bấy giờ mới dốc hết sức, chỉ thoáng chốc đã bẩy được nắp quan. Sau khi di chuyển cái nắp dày phía bên trên, trong nháy mắt, một mùi hương lạ từ bên trong tỏa ra ngoài.
Tay quân phiệt hấp tấp chạy lại phía cỗ quan tài quái dị kia, đột nhiên hắn dừng phắt lại cách đó chừng hơn một mét, đôi chân như bị người ta đổ chì vào, không nhúc nhích được nữa, mắt hắn nhìn chằm chằm vào mép cỗ quan tài. Bên mép quan tài, không ngờ lại có một bàn tay gác lên.
Nhìn từ xa, đó chắc là bàn tay phụ nữ, nhỏ nhắn mà trắng muốt. Nhưng đây lại chính là điều khiến tay quân phiệt kinh sợ, dẫu sao cũng là một cái xác, tuy không rõ niên đại cụ thể, nhưng tính sơ sơ thì ít nhất đã phải trăm năm rồi, vậy mà cái xác không ngờ lại chẳng hề rữa nát.
Tay quân phiệt vô thức đặt tay lên khẩu súng lục đeo ở thắt lưng, nuốt nước bọt, ngừng lại giây lát, rồi ngoảnh đầu đánh mắt ra hiệu cho một tên lính lại xem rõ ràng. Nhưng trước sự việc quái dị như vậy, ai nấy đều mềm nhũn hai chân ra. Tên lính ấy nhanh trí, liền ra phía sau lôi tới một người làng, gí súng vào đầu anh ta.
“Mày…” Sau đó chỉ vào cỗ quan tài đã mở ở phía trước nói tiếp, “Đi xem xem có gì.”
Người làng ấy tuy cũng sợ, nhưng vì bị ép buộc, đành chầm chậm nhích về phía áo quan đang mở toang, rồi đứng lặng nhìn cái xác bên trong, chẳng nói câu nào.
“Bên trong có cái gì?” Tay quân phiệt sốt ruột hỏi.
“Bẩm lão tổng, một cái xác nữ.” Người làng chỉ vào quan tài nói.
Tay quân phiệt nhấc chân đi tới trước cỗ quan tài, không khỏi mừng rỡ ra mặt. Bên trong cỗ quan tài màu đỏ khổng lồ ấy có một cô gái đang nằm, cô ta vận đồ trắng, trên người quấn mấy vòng dây đỏ mỏng mảnh, tóc xõa ngang vai, hai mắt khép hờ. Nhưng quái dị nhất là hai cánh tay nữ tử này vươn lên trên, tựa hồ trước khi chết từng giãy giụa rất dữ. Bàn tay vừa nãy rơi xuống gác trên mép quan tài chính là tay trái của cô ta.
Tay quân phiệt đi hai vòng xung quanh cỗ quan tài, đánh giá nữ tử bên trong một lượt, muốn nhìn xem trên người cô ta rốt cuộc có bảo vật gì khiến thi thể trải qua trăm năm vẫn không mục rữa. Nhưng tìm kiếm hồi lâu, hắn phát hiện ra trên người nữ tử này thậm chí còn chẳng có lấy một chiếc nhẫn. Hắn bèn sai người khiêng cái xác ra khỏi áo quan, đặt trên chiếu cỏ đã trải sẵn bên cạnh, sau đó nhảy vào trong quan tài, muốn xem xét bên trong liệu có cơ quan hay hốc ngầm gì, hoặc che giấu sự vật thần bí gì hay không.
Nhưng tìm mãi cũng không có thu hoạch gì. Tay quân phiệt nổi cáu, liền lột sạch quần áo trên người cái xác nữ xuống. Lột hết quần áo ra vẫn không tìm được thứ gì đáng tiền, thấy sắc trời đã tối, tên quân phiệt bèn sai người cứ để cái xác lõa thể trên chiếu cỏ, bắt đầu quay ra nhóm lửa nấu cơm, chuẩn bị hôm sau dẫn đội ngũ rời khỏi thôn làng.
Bấy giờ tuy đã vào thu, nhưng cây cối trên núi vẫn ẩm ướt dị thường, lúc này tay quân phiệt chợt nhớ ra những quan quách rỗng không vứt ở gần đó tuy không có gì đáng tiền nhưng có thể chẻ ra làm củi đốt. Bốn mươi tư cỗ quan quách nhanh chóng tiêu tan trong đống lửa hừng hực, lúc ăn cơm, tay quân phiệt càng nghĩ lại càng tức, hắn đột nhiên nghĩ ra một phương pháp để phát tiết nỗi uất hận trong lòng: phân thây.
Cái xác chết tiệt ấy khiến bọn họ tốn bao nhiêu công sức, lần lữa ở đây mất hơn hai ngày trời, nghĩ thế, hắn liền sai người khiêng cái xác ra, không làm thì thôi, đã làm thì làm đến cùng, dứt khoát xẻ nó ra thành tám mảnh. Mấy tên lính nhận lệnh bèn chạy ra chỗ để xác, bọn chúng đóng trại cách chỗ để cái xác nữ ấy cũng không xa lắm, nhưng một khắc trôi qua mà chưa ai quay lại, làm tay quân phiệt đợi đến phát bực. Hắn đứng phắt dậy nói:
“Mấy thằng chúng mày đi với tao, bà nó chứ, mấy thằng ranh, khiêng cái xác cũng run lẩy bẩy!”
Nghe lệnh, mấy tên lính bên cạnh hắn đứng cả dậy, nhưng tên quân phiệt vừa nhấc chân lên, đột nhiên nghe thấy tiếng kêu kinh hãi từ chỗ đặt cái xác nữ nhân kia vẳng tới. Hắn lập tức rút súng ra.
Tiếng kêu nháy mắt đã bặt đi trong chốn thâm sơn, mấy tên lính ngơ ngác nhìn nhau, không tên nào không lộ vẻ kinh sợ. Lúc này, lại có thêm nhiều binh lính chạy ra khỏi doanh trại.
“Âm thanh vừa nãy từ đâu vang tới thế?”
“Con bà nó, có phải gặp ma rồi không?”
“Cái chỗ quái quỷ này không khéo lại có thứ ma quỷ gì nữa ấy chứ.”
Đám binh lính tụ tập lại một chỗ mồm năm miệng mười bàn tán, còn tay quân phiệt thì nhíu chặt mày, chậm rãi cất khẩu súng lục vào trong bao. Đúng lúc này, từ phía đặt cái xác lại vẳng tới tiếng súng nổ “pằng pằng pằng”, âm thanh không ngừng vang vọng giữa các khe núi. Tiếng trò chuyện huyên náo lập tức im bặt, tất cả mọi người đều kinh hoảng nhìn về hướng đó.
Tay quân phiệt lại rút súng ra, cao giọng gọi:
“Tập hợp, tất cả tập hợp hết con mẹ nó ra đây cho tao!”
Mệnh lệnh vừa phát ra, đám lính lập tức tập kết lại, cùng lúc đó, lại có mấy tiếng súng nữa vang lên. Tay quân phiệt nghĩ nhất định là xảy ra chuyện rồi. Đoàn quân đã tập hợp đủ, thủ lĩnh đi đầu, tất cả quân sĩ đều đạn dược sẵn sàng, chuẩn bị chiến đấu bất cứ lúc nào.
Bọn chúng vừa ra khỏi khu đất đóng quân, chợt phát hiện một cái bóng xiêu vẹo chạy về phía mình, ánh trăng trắng lấp lóa che mất nửa gương mặt kẻ đó, nhưng nhìn quần áo trên người thì không khó nhận ra, đây hẳn là một trong mấy tên lính vừa chạy đi vác cái xác. Tên lính đeo súng sau lưng, chắc đã bị thương nặng, lê từng bước loạng choạng về phía đoàn quân. Tay quân phiệt rảo nhanh bước chân, chạy tới trước mặt tên lính kia, tên lính liền ngã gục vào lòng hắn.
“Sao vậy? Mấy thằng đi với mày đâu rồi?” Tay quân phiệt vội vã hỏi.
“Chết… đều chết cả rồi!” Tên lính chỉ còn thoi thóp thở, trả lời.
“Sao mà chết?” Tay quân phiệt giận dữ gầm lên.
“Khỉ… khỉ…” tên lính trả lời một cách hàm hồ, tay quân phiệt đã nghe rõ, nhưng trong lòng lại chẳng hiểu gì cả, Bắc Mông ở phương Bắc, đừng nói là khỉ, thậm chí cả cọng lông khỉ cũng chẳng có, sao kẻ này lại đột nhiên phun ra một câu như thế.
“Mẹ mày nói cái gì thế? Khỉ hả?” Tay quân phiệt ra sức lắc tên lính, nhưng tên lính đã hôn mê bất tỉnh từ lúc nào. Thấy vậy hắn liền gầm lên với đội ngũ phía sau:
“Khiêng nó đi, nhất định phải cứu sống bằng được cho tao!”
Nói đoạn, hắn cầm súng dẫn theo đội ngũ chạy về phía Tứ Thập Tứ Trủng, từ xa đã ngửi thấy mùi máu tươi tanh tưởi xộc vào mũi. Lòng hắn nặng nề hẳn, bàn tay cầm súng rịn mồ hôi. Song hắn vẫn dẫn theo thuộc hạ đánh liều đi vào khu mộ, đưa mắt quan sát xung quanh một lượt, thấy có mấy cái xác nằm ngổn ngang cái gần cái xa, còn xác nữ nhân lõa thể nằm trên chiếu cỏ lúc này thì đã không rõ tăm tích.
Mấy tên lúc nãy đều đã chết rồi sao? Tình cảnh này khiến tất cả mọi người đều nín thở, cả đội ngũ hơn hai trăm người không ngờ lại im phăng phắc. Đúng lúc này, tay quân phiệt đột nhiên nghe thấy âm thanh “răng rắc, răng rắc”, liền đưa mắt nhìn về phía phát ra tiếng động ấy.
Cách chỗ hắn chừng bốn năm chục mét dường như có một người đang ngồi chồm hổm, dưới ánh trăng, hắn nhìn thấy rõ ràng kẻ kia xoay lưng về phía mình, trên người khoác một tấm áo da màu đen, đầu kẻ ấy trồi lên hụp xuống, tựa hồ đang làm gì đó.
Kẻ này là ai? Chắc chắn không phải một tên lính may mắn sống sót rồi, vậy thì có thể là ai? Tay quân phiệt thầm phỏng đoán, đúng lúc này, viên phó quan bên cạnh hắn đột nhiên cao giọng quát:
“Người phía trước kia, xoay lại đây, bằng không chúng ta sẽ nổ súng!”
Lời nói vừa dứt, liền nghe thấy đội ngũ phía sau phát ra tiếng mở chốt lên đạn lách ca lách cách, người phía trước hiển nhiên đã bị âm thanh này làm cho sững sờ, động tác liền dừng lại, nhưng không hề quay đầu.
“Mẹ nhà mày, có nghe thấy không hả? Còn không quay lại thì ông mày bắn đấy!” Nói đoạn, viên phó quan giơ súng lục lên nhắm bắn.
Đúng lúc này, tay quân phiệt cảm thấy chân mình đột nhiên bị thứ gì đó tóm chặt, hắn run bắn người, vội vàng cúi đầu nhìn, không ngờ lại là một tên lính sai đi lúc nãy, tên này chỉ hôn mê chứ chưa chết hẳn.
“Chạy, chạy!” Tên lính dốc hết chút hơi sức còn lại, nhưng âm thanh phát ra vẫn cứ hàm hồ khó nghe.
“Cái gì?” Tay quân phiệt lớn giọng nói.
“Chạy…” Tên lính đứt hơi khản tiếng hét lên, lần này thì tất cả mọi người đều nghe rất rõ, chỉ có điều, tiếng hét của hắn vừa dứt thì đã nghe thấy phía sau đội ngũ truyền lại mấy tiếng kêu thảm thiết.
Tay quân phiệt xoay người lại, phát hiện đội ngũ đằng sau đã trở nên hỗn loạn.
“Xảy ra chuyện gì vậy?” Tay quân phiệt cao giọng hét lớn, vừa dứt lời, sau lưng đột nhiên vẳng đến mấy tiếng súng, hắn ta cuống lên, rảo bước chạy lại phía sau, vừa chạy vừa lớn tiếng quát:
“Không được loạn động, tất cả không được loạn động!”
Hắn hi vọng đám lính có thể bình tĩnh trở lại, song đám binh lính đang trong cơn kinh hoảng đâu có thể nghĩ ngợi gì nhiều, giữ mạng mới là điều quan trọng nhất. Khi hắn chạy đến phía cuối đội ngũ, cả đám người đã loạn lên chẳng còn quy củ gì nữa, có mười mấy kẻ yếu ớt nằm gục dưới đất, quần áo trên người bị cào rách toạc, nhưng không nhận ra là thứ gì gây nên.
Đúng lúc này, một bóng đen thình lình lướt qua trước mắt, cái bóng ấy tựa như đứa trẻ mới lớn, thân hình rất giống một con khỉ đã trưởng thành, phi thân nhanh như cắt từ cây liễu cạnh đó xuống, lao thẳng vào tấn công một tên lính đang hoảng hốt tháo chạy. Tên lính lập tức ngã xuống, lăn lộn trên đất, một lúc sau, thân thể bắt đầu co giật dữ dội, quằn quại giây lát rồi không nhúc nhích gì nữa.
Hắn mãi nhìn đến ngơ ngẩn, không chú ý đến bản thân lúc này cũng đã rơi vào vòng nguy hiểm, chợt nghe bên tai vang lên tiếng gió vù vù, bấy giờ tay quân phiệt mới sực tỉnh ngộ, có điều tỉnh ra thì đã muộn, bóng đen kia đã đến gần hắn. Dục vọng cầu sinh của con người luôn có thể sáng tạo ra kỳ tích, hắn xoay người nhanh như chớp, nhằm bắn vào “con khỉ” phía sau lưng, “con khỉ” phản ứng cực nhanh, thân hình hơi lắc một cái đã tránh được viên đạn, song nó cũng không đánh trúng được tay quân phiệt.
Tay quân phiệt thấy tình hình không ổn vội co giò tháo chạy, trà trộn vào trong đám người. Đội quân hoảng loạn bị “con khỉ” chia cắt thành mấy đoạn, tay quân phiệt dẫn theo tầm năm chục lính, chạy được vài dặm thì mệt đến nỗi thở hồng hộc, toàn thân đầm đìa mồ hôi. Sau khi xác định “con khỉ” không đuổi theo, hắn mới ra lệnh cho toán quân nghỉ ngơi tại chỗ.
Kể ra cũng khéo, hôm ấy trời lại giáng một trận sương mù lớn, sương mù dày đặc khiến người ta không thể nhìn rõ ai với ai trong vòng năm mét. Đoàn người nghỉ ngơi được một lúc, song cũng lạc lối trong núi sâu ở Bắc Mông, nếu theo đường cũ vòng ngược trở về thì lại sợ chạm phải “con khỉ” kia, vì vậy bọn chúng đành phân mấy người canh đêm, những người khác tiếp tục nghỉ ngơi tại chỗ.
Tay quân phiệt đang ngủ say giấc, đột nhiên nghe thấy có tiếng súng nổ, hắn giật nảy mình từ dưới đất nhỏm dậy. Khi đó mới phát giác những người bên cạnh cũng đã bị tiếng súng đánh thức. Tiếng súng từ đằng trước truyền lại, và lại nghe như càng lúc càng đến gần bọn hắn.
Chẳng lẽ là người phe mình bị “con khỉ” kia tập kích? Nghĩ tới đây, hắn lập tức dẫn theo số lính ít ỏi còn lại đi tăng viện, nhưng vì sương mù dày đặc không nhìn rõ đường, đi chừng nửa khắc, đột nhiên trong màn sương vọt ra mấy cái bóng đen, kế đó lại có tiếng kêu thảm thiết vang lên.
Nhất định là bọn khỉ rồi, nghĩ tới đây, hắn liền lệnh cho binh lính lập tức nổ súng kháng cự, sau một loạt tiếng súng hỗn loạn, bóng đen trước mặt rốt cuộc cũng biến mất.
Một lúc sau, phương Đông bắt đầu hừng sáng, bọn chúng nghĩ lũ “khỉ” kia có lẽ cũng đã về ổ, bèn quay lại theo đường cũ, chuẩn bị trở về chỗ đóng quân. Chẳng ngờ, đi được chừng hơn năm chục bước thì phát hiện ra trước mặt có một đống xác người, toàn bộ đều là xác của binh lính trong đội ngũ. Thêm một điều nữa khiến tay quân phiệt càng thêm khó hiểu, đó là toàn bộ những binh lính ấy đều trúng đạn mà chết.
Hắn không khỏi lạnh sống lưng, chẳng lẽ những bóng đen đêm qua hắn trông thấy lại là những binh lính này sao? Hắn sai người kiểm tra lại tất cả những xác chết, đích thực đều mất mạng dưới họng súng của quân mình, tổng cộng có bảy mươi sáu người cả thảy.
Tay quân phiệt nôn nóng trở về doanh trại, nhưng lúc đi qua Tứ Thập Tứ Trủng lại phát hiện mấy tên lính chết đêm qua đều đã biến thành xương trắng, thịt và nội tạng đã biến mất. Tay quân phiệt cũng không dừng lại, khi hắn trở về doanh trại thì đã có một nhóm lính quay về trước. Hắn tìm viên quân y hỏi rõ về thương thế của tên lính bị thương đêm qua, quân y nói tên đó từ bấy đến giờ vẫn luôn sốt cao, lúc tỉnh lúc mê, vả lại vết thương đã bắt đầu rữa nát, thuốc chống viêm nhiễm bình thường hoàn toàn không có tác dụng.
Nghe quân y nói xong, hắn không nói không rằng chạy thẳng tới lều của tên lính kia. Tên lính đang nằm trên giường nói mớ:
“Tha cho tôi đi, tha cho tôi đi mà, không liên quan đến tôi.”
Tay quân phiệt tát một phát vào mặt tên lính, tên này hoảng hốt tỉnh lại nhìn thấy thủ lĩnh của mình, cơ mặt khẽ giật giật mấy cái, sau đó nước mắt trào ra:
“Tư lệnh, bọn họ chết thảm lắm!”
“Tối qua bọn mày gặp phải chuyện gì vậy?” Tay quân phiệt ấn cánh tay thuộc hạ xuống, hỏi: “Còn nữa, lũ ‘khỉ’ kia ở chỗ quái quỷ nào chui ra vậy?”
“Tôi cũng không biết, chúng tôi theo lệnh của ngài đi khiêng cái xác nữ về doanh trại, nhưng khi đến chỗ đặt cái xác thì phát hiện nó đã biến mất từ bao giờ, đang định quay trở về, đột nhiên từ trong một mộ huyệt nhảy ra một con quái vật trông như con khỉ, tốc độ cực nhanh, chúng tôi chưa kịp phản ứng gì thì đã có hai người ngã xuống. Tôi thấy tình thế không ổn, lập tức xoay người bỏ chạy, nhưng cái thứ quái quỷ ấy vẫn đuổi riết không buông,” Nói tới đây, tên lính nuốt nước bọt rồi tiếp lời, “Những người cùng đi hết người này đến người kia ngã xuống, thậm chí còn không kịp kêu lên một tiếng, đúng lúc cái thứ đó lao bổ tới tôi, tôi bèn xoay người bắn một phát, dường như nó rất sợ tiếng súng, thoắt cái đã biến mất. Tôi không dám chần chừ, lại tiếp tục chạy về phía trước, đột nhiên thứ đó xồ ra trước mặt, tôi chưa kịp phản ứng nó đã cắm một nhát vào vai trái. Tôi rút dao vung loạn xạ mới dọa được nó chạy, kế đó thì gặp lại mọi người.”
“Thì ra là thế.” Tay quân phiệt trầm ngâm nói.
Ngày hôm ấy, tay quân phiệt dẫn quân rời Bắc Mông, nhưng một tuần sau khi bọn hắn rời đi, Bắc Mông liền xảy ra thảm án, cứ đến đêm khuya là lũ quái vật giống như khỉ lại xuất hiện trong nhà người ta mà không ai hay biết, giết chết người trong nhà. Chỉ trong một thoáng ngắn ngủi, đã có hơn hai trăm người chết, rất nhiều người đang chuẩn bị rời khỏi Bắc Mông.
Đúng lúc ấy, ông tôi xuất hiện, ông tên là Phan Tuấn, lúc ông đến Bắc Mông, trời đang mùa thu, ông khoác trên người một chiếc áo bông màu đen. Sau khi hỏi thăm biết được chuyện xảy ra trong làng, ông nói với người làng, thứ quái vật trông giống khỉ ấy gọi là bì hầu. Chúng vốn sống ở trong núi sâu, chuyên ăn thịt thối. Nhưng vì chiến loạn kéo dài nhiều năm, người chết vô số, nhiều thi thể chưa được chôn cất đã thối rữa ra rồi, nên rất dễ dụ bọn bì hầu này đến.
Nhưng điều làm ông thấy kỳ dị là, mặc dù bộ dạng hung tàn, nhưng bì hầu lại rất hiếm khi chủ động tấn công con người, trừ phi… ông không nói nốt những lời phía sau, mà trực tiếp đến thẳng Tứ Thập Tứ Trủng. Khi nhìn thấy cây cối ở xung quanh, gương mặt ông thoáng hiện vẻ mừng rỡ.
“Thì ra là thế.”
Sau đó ông nói với trưởng làng, ở khu mộ địa Tứ Thập Tứ Trủng ấy có bốn mươi ba ngôi mộ giả, chỉ là để che giấu ngôi thứ bốn mươi tư. Trong ngôi mộ ấy chắc là có một cái xác nữ, thân vận đồ trắng, xung quanh người quấn dây đỏ, vả lại còn không bị mục rữa. Trưởng làng nghe thế cả mừng, ông tôi chưa từng đến đấy, vậy mà lại nói rõ được chi tiết như thế, nhất định đã biết được nguyên cớ bên trong.
Ông tôi nói cái xác đó là vật chẳng lành, sở dĩ trải bao năm tháng cũng không mục rữa chẳng phải nhờ có kỳ trân dị bảo gì, mà bởi trong cái xác ấy có một con sâu, con sâu này kí sinh trên thi thể nên mới có hiện tượng kỳ dị như thế. Loại sâu này là thiên địch của bì hầu, mỗi lần gặp phải thi thể như vậy, lũ bì hầu sẽ phát cuồng lên, nên mới chủ động tấn công con người.
Giờ lũ bì hầu cứ ở lại quanh thôn làng không chịu đi, là bởi cái xác ấy có lẽ đang được giấu trong làng. Trưởng làng hết sức kinh hãi, chưa bao giờ nghe qua trên đời này lại có chuyện ly kỳ đến vậy, thì ra nguyên nhân hiện tượng thi biến lại chỉ là một con sâu nhỏ. Mặc dù không hiểu nguyên cớ bên trong thế nào, song trưởng làng vẫn hỏi ông tôi cách để tìm được cái xác kia.
Ông tôi thở dài một tiếng, nói:
“Tôi đã tìm nó rất nhiều năm rồi, tôi có cách, nhưng tất cả mọi người cần phải nghe theo lệnh của tôi.”
Vậy là tối hôm đó, tất cả phụ nữ trong làng đều bị ông tôi tập hợp lại trong từ đường, đàn ông cầm cuốc canh giữ bên ngoài, bất luận xảy ra chuyện gì cũng không được tùy tiện xông vào. Cửa từ đường mở rộng, mỗi người phụ nữ đều cầm một nén hương, không được rời tay. Sau khi chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, ông tôi bèn nấp trên mái hiên của từ đường.
Tối hôm đó rất yên ả, mãi đến sau nửa đêm, đột nhiên ông tôi nhảy từ trên xà nhà xuống, hướng ra phía ngoài hét lớn:
“Đóng cửa!”
Những người đàn ông đã chuẩn bị sẵn sàng bên ngoài lập tức đóng chặt cửa từ đường lại, sau đó ông tôi bảo tất cả phụ nữ đứng thành một hàng, khi ấy bà nội ruột của tôi sắp sinh, ông đếm từ trái sang phải, cả làng vốn có bốn mươi lăm phụ nữ, nhưng giờ lại có thêm một người.
Ông tôi đi tới bên cạnh một cô gái trong số họ cười nói:
“Cô bước ra đi!”
Cô gái ấy mặt mày thanh tú, vận đồ trắng toát, cười khảy với ông tôi, không nói gì, ông đột nhiên rút ra một thanh đoản kiếm, nhưng cô gái ấy phản ứng cũng rất nhanh, lập tức lùi lại mấy bước tránh được.
Ông nội liên tiếp áp sát cô gái đó, cô ta dường như muốn tóm lấy một người làm bia chắn, nhưng mỗi lần gặp phải que hương trên tay những người khác là lại rụt tay về. Đúng lúc này, bà nội tôi đột nhiên lâm bồn, cơn đau kịch liệt khiến que hương trên tay bà rơi xuống đất. Cô gái kia nhanh tay nhanh mắt, lập tức bổ về phía bà.
Nói thì chậm, lúc đó sự việc diễn ra rất nhanh, tuy rằng đoản kiếm trong tay ông tôi cực nhanh, nhưng rốt cuộc vẫn ở phía sau, trong khoảnh khắc cô gái kia ôm chặt bà nội, đoản kiếm của ông cũng đâm vào cơ thể cô ta. Chớp mắt, làn da cô gái kia trở nên nhăn nheo, mái tóc cũng bạc trắng như tuyết.
“Chậc, vẫn bị chậm mất một bước.” Ông tôi thở dài.
Sau đấy, ông tôi nói với trưởng làng, con sâu ấy đã chui vào cơ thể bà nội tôi rồi, loài sâu này gặp máu nóng sẽ lập tức chìm vào giấc ngủ, cho tới khi người qua đời mới tỉnh lại, vì vậy lũ bì hầu kia không ngửi thấy mùi của con sâu, cũng sẽ không đến quấy nhiễu thôn làng nữa. Có điều, con sâu có thể theo đứa bé truyền đến đời sau, vì vậy mỗi đứa trẻ sau khi sinh ra đều phải kiểm tra, để xem con sâu này rốt cuộc ở trong thân thể ai. Trưởng làng lo lắng con sâu ấy lại làm loạn nữa, bèn giữ ông tôi ở lại.
Nghe cha kể xong, tôi dường như cũng hiểu được một chút.
“Đi thôi, sắp về đến quê rồi.” Nói đoạn, cha tôi vứt đầu mẩu thuốc trên tay đi, mở cửa xe. Chỗ này cách quê tôi chỉ mười mấy cây số, nhưng đường núi gập ghềnh khó đi, xe cứ xốc nẩy không ngừng.
Thực tế, Bắc Mông không hề hẻo lánh, nhưng bao lâu nay vẫn rất đói nghèo, mới năm 2004, một đám người từ nơi khác đến, mang theo rất nhiều trang thiết bị, bọn họ phát hiện dưới lòng đất Bắc Mông có một lượng khoáng sản lớn, vậy là cư dân quanh vùng tựa như đột nhiên hứng được dòng cam lộ đã lâu lắm rồi mới chảy xuống.
Tiếp đó là các loại máy móc cỡ lớn tiến vào, từng mỏ khai khoáng lớn nhỏ xuất hiện ở Bắc Mông như nấm mọc sau mưa, ngôi làng vùng núi xưa nay vốn thanh bình yên tĩnh tựa như sau một đêm đã trở nên ồn ào huyên náo. Công nhân mặc đồ bảo hộ lao động đủ màu đi lại trên những con đường quê nhỏ bé.
Chiếc xe nhanh chóng lái vào Bắc Mông, nhưng tôi kinh ngạc nhận ra những ngôi nhà trong ký ức giờ đây đã biến thành đống hoang tàn đổ nát, mấy cái máy xúc đang ra sức ra oai với mấy căn nhà vẫn còn đứng đó.
“Bố, thế này là thế nào?” Tôi chỉ phía trước hỏi.
“À, sang năm có lẽ Bắc Mông sẽ không còn tồn tại nữa rồi.” Cha tôi thở dài một tiếng, sau đó nhấn chân ga, “Nơi này đang giải tỏa, Bắc Mông sắp bị xóa sổ.”
Câu nói của cha làm lòng tôi chợt gợn lên một cảm giác buồn thương man mác. Bắc Mông, có lẽ đây là lần cuối cùng ta nhìn thấy ngươi rồi. Căn nhà của ông tôi nằm ở sâu tít trong cùng làng Bắc Mông, cái sân không rộng, những khối đá thấp lè tè trộn với đất bùn làm thành một bức tường bao thấp quây quanh, gần cổng có một cái giếng, miệng giếng có khí lạnh bốc lên, hồi nhỏ mỗi khi đi tới cạnh cái giếng này, tôi luôn thấy bất an.
Cha dừng xe ngoài cổng, bước xuống, khẽ đẩy cánh cổng gỗ, liền nghe thấy mấy tiếng gà kêu. Cánh cổng mở, đúng lúc này một ông già cũng đang mở cửa nhà đi ra, đó chính là ông nội tôi… ông già thần bí đó. Ông khoác một chiếc áo bông màu đen, miệng ngậm tẩu thuốc.
“Về rồi đấy à?” Ông vừa nói vừa đi về phía hai cha con tôi, có điều, ông rõ ràng đã già thêm, bước chân loạng choạng, gương mặt lộ ra nụ cười mà trước đây tôi chưa từng trông thấy.
Ông dẫn hai chúng tôi vào nhà, căn nhà rất đơn sơ, chỉ có một cái kháng đất (một loại giường bằng đất, rất phổ biến ở vùng Đông Bắc Trung Quốc), mấy cái tủ màu đỏ không biết làm bằng thứ gỗ gì, và một bộ bàn ghế cũ rích, ngoài ra không còn vật gì khác.
Ngồi trên kháng đất, ông rót cho cha con tôi hai chén trà, một mùi hương dễ chịu thoang thoảng phả vào mũi. Ông ngồi đối diện với chúng tôi, nói qua loa dăm ba câu chuyện, rồi bảo cha tôi:
“Anh ra ngoài loanh quanh một lúc đi, ta có chuyện cần nói riêng với Mộc Dương.”
Cha tôi gật đầu, đưa mắt nhìn tôi, sau đó đẩy cửa đi ra ngoài.
Ông tôi khẽ ho vài tiếng, rủ rỉ nói:
“Mộc Dương, những gì ta nói với cháu hôm nay, cháu phải nhớ cho kỹ.”
Tôi nghe mập mờ, nhưng vẫn khẽ gật đầu.
“Cháu đã bao giờ nghe nói đến khu trùng sư (thuật sư điều khiển côn trùng) chưa?” Ông hỏi tôi.
Tôi vội lắc đầu, khu trùng sư? Tôi có nghe nói đến phong thủy sư, tướng học sư, nhưng khu trùng sư này rốt cuộc là cái gì chứ?
“Cháu xem, thực ra, côn trùng trong thiên hạ này tuy có hàng trăm nghìn loài khác nhau, nhưng tất cả đều không nằm ngoài ngũ hành, tức là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.” Ông tôi nói bằng giọng thản nhiên, “Các loài côn trùng mà người bình thường chúng ta thấy đa phần thuộc hệ Mộc, vả lại những thứ côn trùng này cũng không gây tổn hại đối với con người cho lắm, nhưng bốn hệ kia thì khác.”
“Dạ?” Trước đây tôi chưa bao giờ nghe nói đến kiểu phân loại côn trùng ly kỳ như vậy, kể cả bây giờ nếu nghe lại cũng vẫn cảm thấy mới mẻ như lúc đầu.
“Cháu hiểu à?” Ông tôi lộ vẻ mừng rỡ.
“Hình như… nhưng vẫn không hiểu cho lắm.” Tôi do dự đáp.
“Ha ha!” Đây là lần đầu tiên tôi thấy ông cười lớn như thế, đoạn ông đứng dậy đi tới cái tủ gỗ cạnh đó, cẩn thận mở cửa tủ, trong nháy mắt, một mùi hương thơm ngát từ bên trong tỏa ra. Mùi hương ấy rất quái dị, nhưng quả thực rất thơm. Thoáng sau đó, mấy con gà trống bên ngoài bắt đầu chộn rộn hết cả lên.
Ông tôi lục lọi trong tủ hồi lâu, lấy ra một cái hộp gỗ nhỏ, tuyền một màu đen, liền lạc thành một khối, nhìn trơn bóng nhẵn nhụi, mùi hương kia chính từ đó tỏa ra. Ông đặt cái hộp trước mặt tôi, nói:
“Mộc Dương, con trùng ở trong này thuộc hệ Thổ.”
Tôi lại càng tò mò, con trùng thuộc hệ Thổ rốt cuộc thế nào.
“Con trùng trong hộp này biết độn thổ, rất khó bắt được nó trong lòng đất, nhưng vì ngũ hành tương sinh tương khắc, nó sợ nhất là mộc, nên nếu bỏ vào cái hộp gỗ này thì nó không thể thoát được. Nào, cháu mở ra xem đi.” Ông tôi đẩy nhẹ cái hộp gỗ tới trước mặt tôi. Tôi thoáng do dự, nuốt nước bọt rồi nhẹ nhàng mở hộp ra. Có một quả trứng năm màu to như trứng chim cút ở bên trong hộp, nhưng lạ một điều là, mùi hương cổ quái lúc nãy lại nhạt đi rất nhiều.
“Thứ trùng này gặp gỗ liền co rút lại, hình thành một lớp vỏ dày bên ngoài, nhưng hễ gặp đất lớp vỏ sẽ tan biến trong thời gian rất ngắn, sau đó nó biến thành con sâu.” Ông vừa nói vừa khom người nhón một ít đất dưới sàn lên, cẩn thận bỏ vào hộp.
Tôi tròn mắt nhìn chằm chằm vào con sâu bên trong, chỉ một chốc sau, liền phát hiện nó rung lên nhè nhẹ, mới đầu tôi còn tưởng mình bị ảo giác, không lâu sau, con sâu càng lúc càng rung mạnh hơn, qua vài phút thì nghe một tiếng “rắc” nhẹ, lớp vỏ cứng trên mình nó tách ra.
Thật không thể tưởng tượng nổi, một cái đầu màu hồng phấn từ bên trong chui ra, nhưng không có mắt, nó nhanh chóng ăn sạch chỗ vỏ còn lại, trở nên béo búp trắng mịn như con nhộng tằm.
“Đây chính là...” Tôi kinh ngạc thốt lên.
“Đúng.” Nói đoạn, ông tôi ấn lên con sâu, sau đó đổ đất trong hộp đi, chỉ thấy thân thể con sâu như bị kích thích, nhanh chóng co rút, thoắt cái, lớp da bên ngoài đã lại biến thành một lớp vỏ cứng.
“Thần kỳ quá, tại sao trước đây cháu chưa từng nghe nói những chuyện này nhỉ?” Tôi trố mắt ra nhìn ông hỏi.
Ông thở dài, nói:
“Hôm nay ông gọi cháu đến là muốn kể cho cháu nghe một số chuyện về ông và những con trùng này.”
“Về ông?” Tôi kinh ngạc thốt lên.
“Ừm, những ký ức ấy đã phủ bụi mấy chục năm, ông nghĩ nếu còn không nói ra, thì e là không có thời gian nữa.” Giọng ông đượm vẻ thê lương.
“Tất cả chuyện này nên bắt đầu từ người tử tù ông gặp vào mùa hạ năm đó.” Ông tôi thở dài một tiếng, sau đó châm một điếu thuốc.