Tìm kiếm

Hỗ trợ tìm theo tên truyện hoặc tác giả

Chương 981: Hậu Sinh Khả Úy

Ngu thị vương triều, niên hiệu Thần Long.

Sau khi chia tay với Thôi Đông Sơn kia, bên cạnh Vương Chu chỉ còn mang theo Cung Diễm và Vương Quỳnh Cư. Ba vị tùy tùng thủy phủ còn lại — ngọc đạo nhân Hoàng Mạn thân là quỷ tiên, Lý Bạt đạo hiệu "Thối Chưởng", cùng Khê Man xuất thân thổ long trên đất liền — cả ba đều đã bị Thanh Bình Kiếm Tông bắt đi làm phu, cần đích thân khảo sát địa thế của con Đại Độc tương lai cùng núi sông dọc đường, chẳng thể để mình thành kẻ oan uổng bỏ công xuất lực mà còn bị trừ xén tiền công. Còn mấy người Vương Chu thì chẳng khác nào một đường du sơn ngoạn thủy, đi dừng bất định, chỉ xem tâm trạng của vị Đông Hải thủy quân này thế nào. Hai bên bèn chia tay mỗi người một ngả, hẹn ngày gặp lại ở Tích Thúy quán bên Lạc Kinh.

Giữa cung thành và hoàng thành của Lạc Kinh, có một con hẻm Bạch Mễ, Tích Thúy quán do hộ quốc chân nhân Lữ Bích Lung trụ trì tọa lạc tại đây.

Kiến trúc đạo quán đều dùng ngói lưu ly bích lục do quan diêu hoàng gia nung chế, trong quán tùng bách um tùm, cây cối lâu năm, quanh năm rợp bóng xanh, cho nên có tên là Tích Thúy.

Có điều mấy người Hoàng Mạn lại đến Lạc Kinh sớm hơn ba người nhàn tản vô sự kia, họ đợi ở quán trà trước cửa trạm dịch ngoài kinh thành. Quả nhiên, đúng giờ ngọ nắng chang chang hôm nay, trên quan đạo xuất hiện một cỗ xe ngựa giản dị, phu xe là thiếu niên Vương Quỳnh Cư đeo xiên chiếc hồ lô da đỏ. Nhìn cách ăn mặc, người ngoài liền biết y là người tu hành, phu tử phàm tục ra ngoài du lịch, đâu có ngớ ngẩn đến mức đeo một cái hồ lô lớn bắt mắt như thế.

Vương Chu khoác một bộ trường bào trắng như tuyết bước xuống xe ngựa, Cung Diễm cẩm y hoa phục theo sát phía sau, dừng ngựa uống trà, ngồi chật kín một bàn.

Chỉ riêng thiếu niên không có tư cách lên bàn uống trà, chỉ có thể bưng bát trà, ngồi xổm bên đường.

Cung Diễm không nhịn được mở miệng nói:

— Thủy quân, chúng ta thật sự muốn dây dưa với cái Ngu thị vương triều này sao?

Nàng đối với Ngu thị vương triều này quả thật không có cảm tình gì, một đường đi tới, quan viên gặp được phần nhiều chuộng hư danh, thích thanh đàm, ham công danh, nhiều chính sách ở địa phương đều là những cái khung hoa hòe hoa sói, tốt mã mà rỗng tuếch.

Một đạo chính lệnh xuất phát từ nha thự lục bộ ở Lạc Kinh, tầng tầng ban xuống, cuối cùng có khi bách tính chỉ được ba phần lợi ích thực sự, mà quan viên địa phương mồm mép khéo léo, liền có thể thổi phồng thành mười một phần công hiệu.

Bảng xếp hạng mười đại vương triều Đồng Diệp châu mới ra lò, Đại Tuyền vương triều đứng đầu bảng, Đại Sùng vương triều thứ ba, Ngu thị vương triều xếp thứ năm. Mà chính cái vương triều danh tiếng đã thối nát khắp nơi này, quan viên lại người nào người nấy như thể vừa được tiêm máu gà, hô hào đòi giữ năm tranh ba.

Lý Bạt nói:

— Nước Đại Tuyền sâu thăm thẳm, không dễ nắm trong tay. Giả sử quốc lực của Diêu thị Đại Tuyền là mười, Ngu thị là năm, thì Đại Tuyền có thể dùng cho thủy phủ ta, tối đa cũng chỉ hai ba phần, nhưng Ngu thị vương triều thì là cả năm phần, có bao nhiêu liền nguyện ý cho bấy nhiêu. So sánh như vậy, thủy phủ tất nhiên là nâng đỡ Ngu thị vương triều có lợi hơn. Vấn đề duy nhất, chỉ sợ cái Ngu thị vương triều này ngang ngạnh khó trị, nâng đỡ không nổi, ngược lại còn liên lụy thủy phủ chúng ta mang vạ vào thân.

Hoàng Mạn mỉm cười nói:

— Nói tóm lại, chính là Diêu Cận Chi không chịu nghe quản, mụ đàn bà này xương cốt quá cứng. Cũng bình thường, nếu không phải cái tính khí ấy, làm sao giữ nổi quốc tộ Đại Tuyền. Nhớ khi đó yêu tộc Man Hoang đưa ra điều kiện cho Thận Cảnh thành, vẫn còn rất hậu hĩnh, độc nhất vô nhị. Trái lại, vị hoàng đế Ngu thị nằm trên giường bệnh kia thì rất nghe lời, hơi thở ra còn nhiều hơn hơi hít vào, còn nghĩ cách làm sao lấy lòng chúng ta. Chỉ không biết thái tử Ngu Lân Du kế thừa đại thống, là thái độ thế nào. Chuyến đi Lạc Kinh này, Lý Bạt, ngươi cũng từng làm quốc sư, phải giúp xem xét cho kỹ mới được.

Cung Diễm trừng mắt nói:

— Ngươi nói chuyện khách khí chút cho ta, đừng mở miệng là "mụ đàn bà" này nọ.

Hoàng Mạn bật cười, A Vũ à A Vũ, thế này là khuỷu tay đã ngoặt ra ngoài, cùng Diêu Cận Chi kia đồng thù địch khí rồi sao?

Vương Chu cười lạnh nói:

— Nâng đỡ? Ngu thị vương triều với thủy phủ ta, chẳng qua là hàng năm đúng hạn nạp cống mà thôi.

Cung Diễm liếc nhìn tường thành ngoài của Lạc Kinh, hộ thành đại trận của tòa kinh thành Ngu thị vương triều này chỉ còn là hình thức, tối đa chỉ chống đỡ được một đòn va chạm của tu sĩ Kim Đan. Là Hộ bộ vì giúp quốc khố tiết kiệm tiền, hay là quá ỷ lại vào sự che chở của đạo pháp vị hộ quốc chân nhân trong thành kia?

Vương Quỳnh Cư lập tức móc ra một túi tiền đầy bạc vụn và đồng tiền, chạy đi tính tiền.

Sau đó đoàn người thi triển súc địa pháp, đi thẳng đến con đường ngoài cửa một tòa đạo quán. Khác với cảnh xe cộ tấp nập ngày trước, nay cả con hẻm Bạch Mễ rộng rãi giới bị nghiêm ngặt, hai đầu hẻm đều có cấm quân canh giữ. Nghe nói quốc sư chân nhân gần đây đang bế quan, cả Lạc Kinh đều bàn tán xôn xao, nhất là đám quan lại hiển quý tương đối am hiểu chuyện trên núi, càng kiễng cổ trông chờ: Chẳng lẽ Ngu thị vương triều chúng ta sắp có một vị thần tiên Ngọc Phác cảnh rồi sao?!

Một vị nữ quan xinh đẹp chừng ba mươi tuổi, đầu đội một chiếc bích ngọc Thái Chân quan, chân đi một đôi Lục Hà Bạch Ngẫu tiên lý, tay nâng một cây phất trần trắng như tuyết.

Nàng thu hồi ánh mắt từ phía trạm dịch ngoài kinh thành, chậm rãi bước xuống Quan Nguyệt đài — kiến trúc cao nhất trong đạo quán, nơi dùng hai loại mỹ ngọc lát thành một bức Thái Cực đồ, hai con âm dương ngư đen trắng khép lại thành một vầng trăng tròn.

Chính là quán chủ đương đại của Tích Thúy quán, hộ quốc chân nhân của Ngu thị vương triều ngày nay, quốc sư Lữ Bích Lung, đạo hiệu "Mãn Nguyệt".

Thân hình Lữ Bích Lung lóe lên rồi biến mất, chớp mắt đã đến trước cửa đạo quán, nàng hạ lệnh cho đạo sĩ giữ cửa lập tức mở trung môn của đạo quán.

— Tích Thúy quán Lữ Bích Lung, bái kiến Đông Hải thủy quân.

Lữ Bích Lung bước xuống bậc thềm, thân khoác một kiện pháp bào "Phượng Chiểu". Cho dù đối mặt với một vị Đông Hải thủy quân có thần hiệu, phẩm trật cao nhất ở Hạo Nhiên thiên hạ, một nữ quan tu vi chẳng qua Nguyên Anh cảnh như nàng, vẫn tỏ ra thần sắc tự nhiên, phất nhẹ phất trần, dùng tâm thanh mỉm cười nói:

— Trước đây đã nhận được mật tín của chủ nhân, biết chư vị sắp đến thăm tệ quán, đợi đã lâu. Bèn thỉnh bệ hạ điều động cấm quân Điện Tiền Ty, giới nghiêm khu vực gần hẻm Bạch Mễ, miễn cho xung quanh đạo quán quá ồn ào.

Hoàng Mạn là người tu vi cao nhất trong đám tùy tùng, luôn cảm thấy vị nữ quốc sư trước mắt này có chút cổ quái, chỉ là cụ thể cổ quái ở đâu, lại không nói ra được.

Giống như thiếu đi một chút hơi người.

Vương Chu nheo mắt lại.

Hóa ra là một sứ nhân.

Vương Chu bước lên bậc thềm, nói:

— Bảo Ngu Lân Du và Hoàng Sơn Thọ, lập tức đến đây gặp ta.

Lữ Bích Lung nghiêng người sang bên, đợi Vương Chu bước lên ba bậc thềm trước, lúc này mới theo bước, nghe vậy gật đầu cười nói:

— Thủy quân chờ chốc lát, ta sẽ gọi người đến ngay.

Chỉ thấy nữ quan từ trong tay áo mò ra một con diên xanh gấp bằng giấy, hai ngón tay khép lại kẹp lấy con diên giấy, đặt lên môi khẽ nói một câu: Đông Hải thủy quân giá lâm Tích Thúy quán, kính mời thái tử điện hạ và đại tướng quân Hoàng Sơn Thọ cùng đến đây gặp mặt.

Sau đó Lữ Bích Lung nhẹ nhàng tung con diên giấy màu xanh lên không trung, lưu quang rực rỡ, như chim bay vỗ cánh, đi cực nhanh, trên không vạch ra một vệt lưu huỳnh đẹp mắt.

Nữ quan dẫn đoàn quý khách phương xa này đến một gian phòng trang nhã, lấy ra một bộ trà cụ do ngự chế, Lữ Bích Lung quỳ gối ngồi xuống, bắt đầu nấu trà.

Vương Chu ngồi xếp bằng, một tay chống đầu gối, đỡ má, cũng lười để ý đến vị nữ quan "chim cưu chiếm tổ chim khách" đối diện, chỉ quay đầu nhìn ra sân vườn bên ngoài.

Cung Diễm dùng tâm thanh cười nói:

— Nghe nói Hoàng Sơn Thọ kia là võ phu Viễn Du cảnh, mới hơn bốn mươi tuổi, cũng không có minh sư chỉ điểm, một thân võ nghệ đều là từ sa trường liều mạng chém giết mà ra. Nếu lời đồn không sai, chỉ trong mười năm ngắn ngủi, liên tiếp phá ba cảnh giới.

Lý Bạt nói:

— Đại tài của miếu đường hiếm thấy, Ngu thị vương triều đều nhờ hắn chống đỡ. Nhân nghĩa lễ trí tín của Nho gia, đều không thiếu, khí độ của người này, như chính điện rộng lớn.

Hoàng Sơn Thọ xuất thân bần hàn, đọc sách không nhiều, tuổi trẻ đã đầu quân vào biên quân. Năm xưa một châu chìm đắm, Hoàng Sơn Thọ không theo lão hoàng đế Ngu thị cùng trốn vào bí cảnh của Thanh Triện phái, mà trong vòng vây trùng trùng của đại quân yêu tộc, dựng lên một đội khinh kỵ tinh nhuệ, lấy chiến nuôi chiến, ở mức độ rất lớn đã kìm hãm tinh lực của một tòa quân trướng Man Hoang. Từng có một yêu tộc Ngọc Phác cảnh được chuyên phái đi, chuyên trách chặn giết người này, mấy lần thả mồi nhử đặt bẫy, Hoàng Sơn Thọ lại dường như sở hữu một loại trực giác chiến trường biết trước, chưa từng cắn câu. Mãi đến giai đoạn cuối của đại chiến hai tòa thiên hạ, đội tinh kỵ của Hoàng Sơn Thọ kia cũng chưa từng ngừng quấy nhiễu quân đồn trú của yêu tộc ở khắp nơi trong Ngu thị vương triều.

Cho nên Ôn Úc, phó sơn trưởng mới nhậm chức của Thiên Mục thư viện, vị quân tử chính nhân của Nho gia chiến công hiển hách này, từng công khai bình luận một câu: Võ tướng Hoàng Sơn Thọ, người này chính là khối ngọc trong hố phân của Ngu thị vương triều.

Ôn Úc không hề che giấu lời khen ngợi của mình đối với Hoàng Sơn Thọ, cùng sự chán ghét đối với Ngu thị vương triều.

Hoàng Mạn duỗi hai ngón tay, nhẹ nhàng vê một lọn tóc mai, cười tủm tỉm nói:

— Mới tuổi bất hoặc, đã đến mức công lao không còn gì để phong thưởng, đây chẳng phải công cao chấn chủ là gì.

Cung Diễm cười lạnh nói:

— Nếu không phải nhờ câu nói của Ôn Úc, với tính cách đa nghi của lão hoàng đế Ngu thị, e rằng làm đại tướng quân chưa được mấy năm, đã có thể về hưu dưỡng lão rồi.

Kết quả Hoàng Sơn Thọ không đến.

Chỉ đến một vị thái tử điện hạ của Ngu thị vương triều.

Ngồi bên cạnh Lữ Bích Lung, Ngu Lân Du mặt đầy áy náy, giải thích rằng Hoàng tướng quân ngoài việc chủ trì sự vụ binh bộ một nước, còn kiêm hàm thượng thư Hình bộ, vừa hay có một cuộc họp khẩn cấp, liên quan đến tất cả quan viên trọng yếu của hai bộ nha thự, cho nên Hoàng tướng quân quả thực không thoát thân được.

Lữ Bích Lung cười như không cười, xoay người đưa cho thái tử điện hạ một chén trà nóng.

Thật làm khó Ngu Lân Du rồi, giúp Hoàng Sơn Thọ tìm được một cái cớ hợp tình hợp lý như vậy.

Vương Chu vẫn không dời ánh mắt, nhìn chằm chằm một gốc cây thấp trong sân, thờ ơ nói:

— Nếu Hoàng Sơn Thọ phách lối lớn như vậy, vậy thì phiền Ngu thị vương triều các ngươi, cho thêm mấy cái hàm vinh dự, ví dụ như thái tử thái bảo, đại loại thế, để Hoàng Sơn Thọ từ đó cáo lão hoàn hương. Dù sao trận đánh cũng đã đánh xong, còn cần một đại tướng quân làm gì, chi bằng từ đó vinh quy cố lý, dưỡng thương cho tốt, chuyên tâm nghiên cứu võ học, nói không chừng gắng gượng hai mươi năm, liền có thể giúp Ngu thị vương triều các ngươi thêm một vị tông sư Chỉ Cảnh trấn áp võ vận.

Ngu Lân Du sắc mặt hơi trắng, năm ngón tay siết chặt chén trà, ngẩn ngơ không nói.

Vương Chu thẳng lưng, quay đầu nhìn vị thái tử điện hạ này:

— Nghe không hiểu tiếng người?

Ngu Lân Du run giọng nói:

— Hoàng tướng quân là trụ cột quốc gia của Ngu thị vương triều ta...

Vương Chu phất tay:

— Vậy ta nói rõ hơn một chút, để ngươi chọn một trong hai, giữa hoàng vị và Hoàng Sơn Thọ. Dù sao đợi lão hoàng đế chết, trên triều đường, các ngươi chỉ có thể có một người lộ mặt, hoặc là ngươi Ngu Lân Du ngồi trên chiếc long ỷ kia, hoặc là Hoàng Sơn Thọ tiếp tục đứng ở vị trí đầu hàng văn võ bá quan. Lần này vốn gọi các ngươi cùng đến, chỉ là một việc nhỏ như vậy, nếu là ngươi không đến, Hoàng Sơn Thọ đến, ta sẽ hỏi hắn có hứng thú đổi quốc tính không, không thì từ quan quy ẩn cho xong.

Ngu Lân Du thần sắc biến ảo bất định, hiển nhiên đã rơi vào một trận thiên nhân giao chiến.

Vương Chu châm biếm nói:

— Chẳng phải đều nói long tử long tôn sinh trong nhà đế vương, phàm là có cơ hội ngồi lên long ỷ, chớ nói là nam tử, ngay cả nữ tử, cũng đều có vài phần tâm tính đế vương sao? Lựa chọn đơn giản như vậy, ngươi còn cần do dự?

Hoàng Mạn dùng tâm thanh cười nói:

— Ta còn tưởng Ngu Lân Du sẽ nổi giận đùng đùng, nghĩa chính từ nghiêm từ chối việc này, thà bỏ vương vị không cần, cũng phải giữ lại quan thân của Hoàng Sơn Thọ.

Lý Bạt thản nhiên nói:

— Cứ chờ xem, Ngu Lân Du rời khỏi Tích Thúy quán, sẽ lập tức bí mật gửi thư cho Đại Phục thư viện, khiếu nại việc này với Văn Miếu.

Cung Diễm cười tươi nói:

— Thật không sợ xé rách mặt hoàn toàn với thủy phủ chúng ta à, nếu thái tử điện hạ quả thật mạo hiểm hành sự như vậy, có tính là phú quý cầu trong hiểm nguy không?

Lữ Bích Lung đứng dậy tiễn khách, Ngu Lân Du thất hồn lạc phách rời khỏi Tích Thúy quán, tâm trạng nặng nề, ngồi trong xe ngựa, một lời không nói.

Cung Diễm cười hỏi:

— Đây là?

Vương Chu thuận miệng nói:

— Buồn chán, đùa chơi thôi.

Không giống như đùa.

Hoàng Mạn ngả người nằm xuống đất, hai tay làm gối, vắt chân đung đưa:

— Thủy quân đại nhân của ta ơi, cớ gì tự chuốc phiền phức, nay thư viện Nho gia quản rộng lắm đấy, nhất là Ôn phó sơn trưởng của Thiên Mục thư viện kia, càng là cây gai nổi tiếng, chọc ai cũng đừng chọc cái Ôn Úc này.

Vương Chu thần sắc thản nhiên nói:

— Ta chỉ là khách qua đường của Ngu thị vương triều, có dịp tình cờ gặp thái tử điện hạ ở Tích Thúy quán, trò chuyện vui vẻ, uống một chén trà, lại đề một kiến nghị riêng tư, Ngu Lân Du không tiếp nhận thì thôi, ta cũng chẳng thể làm gì Ngu thị vương triều, từ nay về sau, mỗi người một đường.

Hoàng Mạn cũng không muốn cùng Vương Chu tranh cãi gì về vấn đề này, thật có nhẹ nhàng như vậy thì tốt rồi.

Chỉ là vị thủy quân đại nhân địa vị cao quyền trọng, làm việc nói năng xưa nay như vậy, nghĩ ra cái gì làm cái ấy, bọn họ những thần tử phò long này, quen là được.

Dạy nàng "làm người"?

Đừng quên, Vương Chu chính là một vị đại tu sĩ Phi Thăng cảnh hàng thật giá thật, càng là con chân long duy nhất trên thế gian!

Chỉ nói vị Đạm Đạm phu nhân đạo hiệu "Thanh Chung" kia, chủ nhân của Lộc Thủy Khanh, người nắm giữ thủy vận lục địa của một phương thiên hạ.

Vị đại yêu Phi Thăng cảnh bỗng chốc hiển quý này, sau khi được Á Thánh của Văn Miếu đích thân phong chính, đạo hiệu "Thanh Chung" thăng cấp thành thần hiệu trên kim ngọc phổ điệp. Ở chỗ Nam Hải thủy quân Lý Nghiệp Hầu có thần hiệu "Kiểu Nguyệt", và Tây Hải thủy quân Lưu Nhu Tỉ có thần hiệu "Bích Thủy", Đạm Đạm phu nhân thật ra cũng có vài phần giá đỡ. Tuy mọi người ở Văn Miếu bên kia thần vị phẩm trật như nhau, nhưng Đạm Đạm phu nhân coi như tự lập sơn đầu, cho nên mơ hồ cao hơn đồng liêu nửa đầu. Chỉ duy gặp Vương Chu, liền như kẻ a hoàn hóa tiểu thư, bỗng chốc giàu sang, lại gặp được thiên kim tiểu thư thật sự, lúc ở chung với Vương Chu, hòa nhan duyệt sắc, nhẹ nhàng nhỏ nhẹ, chẳng phải cung kính, mà là nịnh nọt rồi.

Riêng tư mấy tên tùy tùng thủy phủ như Hoàng Mạn, đoán rằng vị Đạm Đạm phu nhân đạo linh cực dài kia, trước trận Trảm Long, có phải có nhược điểm rơi vào tay tổ tiên của Vương Chu hay không. Dù sao ba ngàn năm trước, đám long giao ngạo mạn khó thuần, bởi thuộc về công thần của trận Đăng Thiên thời thượng cổ, được chiếm giữ sự lưu chuyển thủy vận của cả tòa Hạo Nhiên thiên hạ. Hậu thế phàm là luyện khí sĩ tu hành thủy pháp, bất kể xuất thân gì, là sơn tinh thủy quái, hay luyện khí sĩ nhân tộc, gặp những vị chủ nhân thủy vận hành vân bố vũ này, thường đều phải lễ kính, tránh nhường vài phần.

Chỉ là về việc này, ai cũng không dám hỏi Vương Chu.

Rồng có vảy ngược.

Thiên chân vạn xác.

Vương Chu nhìn cái sứ nhân hoàn toàn không khác chân nhân kia:

— Cái Lữ Bích Lung thật kia, nay trốn đi đâu rồi?

"Lữ Bích Lung" mỉm cười nói:

— Bẩm thủy quân, vị tu sĩ Vạn Dao Tông có tên trong phổ điệp, tên thật là Long Cung kia, nay đang uống trà ở Thiên Mục thư viện đấy.

Hoàng Mạn mắt sáng lên, xem náo nhiệt không ngại chuyện lớn, ngồi bật dậy, tò mò hỏi:

— Có phải cái Vạn Dao Tông sở hữu Tam Sơn phúc địa kia không? Ta nhớ tông chủ hình như tên Hàn Giáng Thụ, nghe đồn là một tiên nhân rất giỏi đánh nhau, đặc biệt tinh thông đạo phù lục, tuyệt chiêu cực nhiều.

Vương Chu chẳng để tâm một tu sĩ Tiên Nhân cảnh, thủ đoạn cao nhiều đến mấy, cũng vẫn chỉ là tiên nhân, chẳng qua là một con rắn đầu đất của Đồng Diệp châu mà thôi.

Cho dù đã là tu sĩ Phi Thăng cảnh của sơn điên Hạo Nhiên, Vương Chu nay cũng chẳng có mấy người lọt vào mắt, vừa là tự phụ, càng là tự tin.

Huống chi cho dù là Thập Tứ Cảnh thì sao?

Nàng cũng có thể là. Hơn nữa thời gian sẽ không quá lâu, đây chính là nguyên nhân duy nhất Vương Chu nguyện ý đảm nhiệm Đông Hải thủy quân, sau này đợi nàng bế quan, có một thân phận, có thể ổn thỏa hơn chút.

Kẻ tử địch của nàng, chỉ có một người.

Kiếm tu Trần Thanh Lưu.

Trong trận Trảm Long năm đó, Trần Thanh Lưu từng nghỉ chân tạm ở Lộc Thủy Khanh, còn có một trận luyện kiếm huyền diệu nuốt trọn thủy vận Đông Hải như cá kình.

Đương nhiên Đạm Đạm phu nhân năm đó là tình thế bức bách, bất đắc dĩ, mới mở cấm chế của Lộc Thủy Khanh, "chủ động mời" vị kiếm tiên kia vào trong.

Chỉ là Vương Chu nay đã khôi phục thân phận chân long, quản ngươi những cái gọi là bất đắc dĩ, cái gọi là khổ tâm?

Ngoài ra, Đạm Đạm phu nhân không giống Lý Nghiệp Hầu, Lưu Nhu Tỉ, nàng xuất thân yêu tộc, lại tu hành thủy pháp, cho nên tiên thiên bị chân long áp thắng khắc chế.

Nhưng không sao, trừ Vương Chu ra, cùng lần trước trong thời gian nghị sự ở Văn Miếu, gặp mấy vị đắc đạo chi nhân "tán gẫu", Hỏa Long chân nhân, phù lục Vu Huyền, đại thiên sư Long Hổ Sơn Triệu Thiên Lại, khiến Đạm Đạm phu nhân run rẩy lo sợ, ngoài ra nàng nay ở Trung Thổ Thần Châu, mỗi lần ra ngoài tuần tra địa hạt, vẫn rất uy phong tám mặt.

Chỉ là ngoài việc đó ra, còn có một mối vô vọng chi tai khiến Đạm Đạm phu nhân câm ăn hoàng liên, khiến nàng ở chỗ Vương Chu càng không nói nổi nửa câu cứng rắn.

Năm xưa Đạo Tổ tự tay trồng giàn hồ lô, kết ra bảy quả "Dưỡng Kiếm Hồ".

Đông Hải Quán đạo quán, đồng tử đốt lửa của Bích Tiêu động chủ, sở hữu một quả "Đấu Lượng", chiếc hồ lô lớn màu vàng kim kia, bị tiểu đạo đồng đeo xiên sau lưng.

Vị lão đạo mũi trâu thối này, trước khi đi đến Thanh Minh thiên hạ, đã làm một việc lớn ảnh hưởng sâu xa đến thủy vận Hạo Nhiên, đây cũng là việc khiến Vương Chu phẫn nộ nhất, bởi vì vị lão quán chủ này hạ một đạo pháp chỉ, bảo đạo đồng kia đeo hồ lô "Đấu Lượng", hoặc mời hoặc bắt, đem giao long Đông Hải, gần như toàn bộ nhét vào trong quả hồ lô đó. Đây cũng là nguyên nhân tòa Hiết Long thạch dưới danh nghĩa Lộc Thủy Khanh, mấy năm trước không còn một con giao long nào nghỉ ngơi.

Ngoài ra, lão đạo sĩ lại dùng thủ đoạn thuật pháp thông thiên, mặt biển nghiêng, tây bắc cao đông nam thấp, rót vào trong "Đấu Lượng".

Theo tính toán của Vương Chu, lão đạo thối này, ít nhất đã mang đi gần một thành thủy vận của cả tòa Hạo Nhiên thiên hạ.

Nhưng Văn Miếu bên kia, vậy mà từ đầu đến cuối, đều không ngăn cản việc này.

Thanh Minh thiên hạ vốn thủy vận mỏng manh, xa xa kém Hạo Nhiên thiên hạ, nếu lão đạo thối ở bên kia đổ nước biển trong hồ lô ra, Thanh Minh thiên hạ liền có thể nhờ đó tăng thêm ba thành thủy vận.

Đạm Đạm phu nhân cảm thấy lão đạo sĩ của Đông Hải Quán đạo quán kia, làm như vậy, thì liên quan gì đến ta?

Nhưng trước đây trên chiếc thuyền vượt qua Quy Khư đi đến Man Hoang thiên hạ kia, Vương Chu cứ hỏi nàng vì sao không ngăn cản.

Đạm Đạm phu nhân suýt nữa sụp đổ tại chỗ, chỉ cảm thấy một bụng nước đắng mà không dám lay động, tiểu cô nãi nãi của ta ơi, ngươi bảo một tu sĩ Phi Thăng cảnh như ta, làm sao cản một tên Thập Tứ Cảnh ăn no rửng mỡ thích đọ cổ tay với Đạo Tổ?

Vương Chu đứng dậy, bước ra ngoài phòng, ngẩng đầu nhìn trời.

Sắp nghênh đón một kỳ tam giáo biện luận mới rồi.

Hạo Nhiên thiên hạ bên này, Trung Thổ Ngũ Nhạc thần quân, cùng Tứ Hải thủy quân, đều có tư cách tham gia dự thính.

Tam giáo chi tranh, tọa nhi luận đạo.

Hạo Nhiên Văn Miếu, Tây phương Phật quốc, Thanh Minh thiên hạ Bạch Ngọc Kinh, đều sẽ phái quân tử hiền nhân, đạo chủng và phật tử tham gia biện luận.

Nho gia bên này, sơn trưởng trẻ tuổi của Hoành Cừ thư viện, đệ tử đóng cửa của Á Thánh, Nguyên Bàng không ngoài dự liệu, chắc chắn sẽ tham gia.

Thanh Minh thiên hạ bên kia, đệ tử đóng cửa của Đạo Tổ, đạo sĩ trẻ tuổi đạo hiệu Sơn Thanh kia, quá nửa cũng sẽ tham gia.

Số người tam giáo có thể tham gia luận đạo, thường là từ ba đến chín người không đều, không có định lệ.

Trận "cãi nhau" này, không phải đánh hội đồng, chuyện số người nhiều ít, không quan trọng, thậm chí trong lịch sử dài đằng đẵng của tam giáo biện luận, đã chứng minh số người đông, hoàn toàn vô dụng.

Nhưng chỉ phái ra một người, cũng cực ít, gần vạn năm nay, chỉ có ba lần.

Hai lần gần nhất.

Một lần là Thanh Minh thiên hạ phái Lục Trầm rời khỏi quê hương, về sau là tam chưởng giáo của Bạch Ngọc Kinh.

Trận biện luận đó, Lục Trầm mở miệng trước, sau đó liền không còn ai mở miệng nữa, "thư sinh" và tăng nhân của hai giáo còn lại trực tiếp nhận thua.

Một lần là Văn Miếu để một thư sinh vô danh, chỉ có công danh "tú tài", tham gia biện luận, người này chính là Văn Thánh của Nho gia về sau.

Trận biện luận đó, thư sinh họ Tuân kia, phát ngôn cuối cùng, kết quả trực tiếp khiến nhiều đạo chủng, phật tử chuyển sang đầu nhập môn hạ Nho gia.

Cho nên nay những thần linh sơn thủy địa vị cao và tông môn đỉnh cấp đã nhận được để báo của Văn Miếu, đều có một suy đoán chung.

Ví như Văn Miếu bên này, có thể nào để đệ tử đóng cửa của lão tú tài kia, tham gia lần biện luận này?

————

Một vị sơn quân thân hình cao ráo, địa vị lại càng tôn sùng, với một lão tú tài thân hình gầy gò, cứ thế mắt to trừng mắt nhỏ.

Hai bên chiều cao chênh lệch, vóc dáng cách nhau một cái đầu, cho nên lão tú tài liền nhón chân lên, dưới nách còn kẹp hai chậu xương bồ xanh tươi ướt át.

Phì, cái này gọi là trộm sao? Cái này gọi là cướp.

Cửu Nghi Sơn thần quân, tên thật Ninh Viễn, đạo hiệu Ngọc Quản, thần hiệu Thương Ngô.

Ninh Viễn chặn đường đi của vị Văn Thánh này, mặt nghiêm nói:

— Ngươi tự thấy thích hợp sao?

— Ta thấy thích hợp.

Lão tú tài gật đầu nói:

— Ngươi mà để ta lấy thêm một chậu nữa, không rảnh tay ra, thì thật sự không thích hợp rồi. Thương Ngô lão ca, đừng câu nệ vớ vẩn, hai ta ai với ai, chỉ bằng quan hệ của hai ta, đừng bày vẽ những thứ hoa hòe hoa sói, khách khí với ta làm gì, chẳng đáng đâu, hai chậu xương bồ, đủ lắm rồi.

Ninh Viễn mặt đen lại:

— Họ Tuân kia, ngươi vừa vừa thôi, tính khí của ta so với Chu Du của Tuệ Sơn cũng chẳng tốt hơn được bao nhiêu.

Vừa rồi uống rượu xong, trò chuyện vui vẻ, lão tú tài liền cáo từ rời đi, kết quả rất nhanh chủ quan của Văn Vận ty vội vã chạy đến, nói Văn Thánh lão gia lấy đi hai chậu văn vận xương bồ, nghênh ngang bước ra khỏi vườn, dọc đường gặp ai cũng nói là sơn quân ngài tặng.

Lão tú tài nghĩ ngợi, bắt đầu lấy tình cảm động lòng người, lấy lý lẽ thuyết phục:

— Thương Ngô à, làm người không thể chỉ cao vóc mà không cao lương tâm, ngươi tự nói xem, bảng thư đáng khoe nhất của Cửu Nghi Sơn này, là từ đâu mà ra? Hả?

Trong Cửu Nghi Sơn bia kiệt san sát, cổ tích nhiều, trong vô số danh sơn của Hạo Nhiên, chỉ kém Trung Nhạc Tuệ Sơn.

Hơn nữa Bạch Dã chưa từng lưu lại thi thiên khắc đá ở Tuệ Sơn, lại ở Cửu Nghi Sơn viết liền mấy bài, chỉ vì Bạch Dã từng cùng Lưu Thập Lục lên núi, nghe nói là dưới đề nghị của Lưu Thập Lục, Bạch Dã mới hào phóng bút mực và tài tình như vậy. Mà Lưu Thập Lục sở dĩ như vậy, lại chỉ vì thần quân Thương Ngô của Cửu Nghi Sơn, không chỉ tôn sùng học vấn của tiên sinh hết mực, then chốt nhất, tiên sinh còn từng chính miệng tiết lộ một chuyện, nói Ninh Viễn này cực có kiến giải, khen ngợi mình là người cực thanh khổ, cho nên văn chương tối cao cổ. Cái này cũng chẳng tính là gì, nay tiên sinh có chút danh tiếng, loại lời hay ý đẹp này, ngoài đường nhặt đâu cũng có. Nhưng một kiến giải nào đó của Ninh Viễn, thì có cái để nghiền ngẫm rồi, y nói văn chương của lão tú tài ta đây, như nhật nguyệt tinh thần, kinh vĩ thiên địa, muôn loài hữu sinh đều biết ngưỡng vọng sự cao minh của nó, còn đại đệ tử của ngươi, Tú Hổ Thôi Sàm thì không phải vậy, đạo của y như nguyên khí, đi trong hỗn độn, vạn vật nhờ đó mà chẳng hay biết.

Tiên sinh luôn như vậy, chưa bao giờ để ý người ta khen ngợi học trò của mình, cho dù đánh giá thậm chí còn cao hơn cả mình.

Ngươi khen bản thân lão tú tài ta, vui vẻ một chút là được, ai coi là thật thì kẻ đó là đồ ngốc, nhưng ai mà khen học trò của ta, hơn nữa lời nói còn chân thành, thì lão tú tài ta đây phải coi là thật đấy!

Ninh Viễn bất đắc dĩ nói:

— Tốt xấu gì cũng để lại một chậu.

Lão tú tài ợ một cái hơi rượu.

Ninh Viễn buồn bực nói:

— Cùng lắm ta đổi cho ngươi một chậu khác, không đủ ba ngàn năm, cũng có hai ngàn năm tuổi rồi.

Thật ra vị Cửu Nghi Sơn thần quân này, lần trước Văn Thánh khôi phục thần vị ở Văn Miếu, y đến Công Đức Lâm chúc mừng, đã tặng một chậu văn vận xương bồ ngàn năm, không phải Ninh Viễn không chịu lấy ra lễ vật tốt hơn, mà là thân ở quan trường sơn thủy, có chút kiêng dè, nếu không với tình riêng của Ninh Viễn và lão tú tài, lúc đó tặng ngay một chậu xương bồ ba ngàn năm tuổi, căn bản không tính là chuyện. Cái này cũng giống đạo lý gói tiền mừng ở chợ búa dưới núi, khách chúc mừng gia cảnh tương đương, nếu đều là phong bao một hai lạng bạc, kết quả có người, nhất định gói mười lạng, chính là tát vào mặt người khác.

Ngược lại nữ thần quân của Yên Chi Sơn kia, không có những kiêng kỵ này, lễ vật tặng ra, là quý trọng nhất lúc đó, trong đó lại tự có lý do của nàng.

Lão tú tài trách móc:

— Bàn rượu sợ ép rượu, làm người sợ keo kiệt, Thương Ngô huynh trong ấn tượng của ta khí phách ngút trời thế nào, hôm nay còn ấp a ấp úng, ta sẽ coi thường ngươi đấy!

Thương Ngô thần quân vừa tức vừa buồn cười:

— Trước đây không cho ái đồ của ngươi lên núi, người ngoài không biết chân tướng thì thôi, tưởng ta đang làm giá, ngươi lão tú tài còn giả ngu với ta làm gì?

Lão tú tài làm ầm lên như vậy, nói cho cùng, vẫn là trong lòng có khí, bênh con bê một cách vô lý thôi, trước đây Cửu Nghi Sơn không cho Trần Bình An lên núi, học trò chân trước chịu thiệt, tiên sinh chân sau đã đến đây gây sự rồi.

Lão tú tài nghi hoặc nói:

— Chân tướng gì?

— Đừng có biết rõ còn cố hỏi ta.

Lão tú tài nổi giận:

— Ngươi mà nhất định nói như vậy, ta không vui nghe đâu, để ta với ngươi lý sự cho ra lẽ đàng hoàng.

— Là ý của Chí Thánh Tiên Sư, ngươi đừng giả ngốc với ta.

— Vậy ngươi gọi Chí Thánh Tiên Sư đến đây, ta với lão già đối chất mặt đối mặt, kiểm nghiệm thật giả!

Thương Ngô mặt đầy cười khổ, có ai ăn vạ như ngươi không?

Kết quả có người ấn lên vai lão tú tài:

— Đối chất thế nào, nói nghe xem.

Lão tú tài quay đầu nhìn, ồ, là Chí Thánh Tiên Sư à.

Vai nghiêng một cái, mũi chân xoay một cái, lão tú tài đã quay người, đứng bên cạnh Chí Thánh Tiên Sư, dưới nách vẫn kẹp hai chậu xương bồ, nghiêm trang nói năng bậy bạ:

— Thương Ngô thần quân muốn tặng ta ba chậu xương bồ, ta nói không cần, Thương Ngô thần quân liền không vui, chặn đường không cho ta đi...

Ninh Viễn chắp tay hành lễ với Chí Thánh Tiên Sư.

Chí Thánh Tiên Sư cười gật đầu đáp lễ, bước đi trước, lão tú tài lập tức lẽo đẽo theo sau.

Ninh Viễn do dự một chút, lão tú tài quay đầu, nháy mắt với y, đừng đứng đực ra đó, theo lên.

Chí Thánh Tiên Sư nói:

— Có dự tính gì không?

Lão tú tài mặt đầy lúng túng nói:

— Thôi bỏ đi.

Chí Thánh Tiên Sư cười ha hả nói:

— Ngươi cũng có tự biết mình đấy.

Không đề cử Trần Bình An đi tham gia tam giáo biện luận.

Lão tú tài nói:

— Dù sao còn trẻ, hắn nay lại bận, Văn Miếu chúng ta bên này, đừng cứ làm phiền người ta.

Vừa nói, vừa đưa hai chậu xương bồ cho Thương Ngô thần quân, nói là nhờ cầm giúp trước.

Lão tú tài xắn hai ống tay áo, bày ra bộ dạng muốn đánh nhau:

— Thật không được, nếu nhất định phải thắng, thì để ta ra mặt.

Thương Ngô mặt đầy nghi hoặc, chuyện tam giáo biện luận, là có quy củ, kẻ đã chứng đạo quả, thánh hiền bồi tự của Nho gia, thiên tiên của Đạo giáo, la hán thường trú của Phật môn, là không được tham gia biện luận.

Kết quả chỉ nghe lão tú tài nói:

— Dù sao bị rút thần vị, cũng chẳng phải lần đầu, đợi ta cãi thắng rồi, lại dọn về.

Ninh Viễn hít sâu một hơi.

Chí Thánh Tiên Sư lười cả đáp lời.

Lão tú tài thở dài:

— Ở Ngũ Thải thiên hạ bên kia, ta với tiểu hòa thượng kia trò chuyện hai lần, quả thật Phật pháp cao thâm, ta thấy đám độc thư nhân trẻ tuổi của Hạo Nhiên thiên hạ, không ai cãi lại nó.

Chí Thánh Tiên Sư nói:

— Nếu Lý Hy Thánh tham gia biện luận thì sao.

Lão tú tài sờ cằm, đưa ra một câu công đạo:

— So với loại nắm chắc phần thắng như ta tham gia biện luận, kém hơn một bậc.

Chí Thánh Tiên Sư mỉm cười nói:

— Ngươi cùng ta đi một chuyến Thiều Châu.

Lão tú tài đột nhiên một tay túm lấy cánh tay Chí Thánh Tiên Sư:

— Không vội không vội, đi muộn chút.

Chí Thánh Tiên Sư vỗ vỗ mu bàn tay lão tú tài, ra hiệu buông tay.

Không ăn thua, căn bản không có tác dụng.

Chí Thánh Tiên Sư giơ tay lên định một bạt tai vỗ xuống.

Lão tú tài vẫn không buông tay, ngược lại còn tăng thêm lực.

Cổ nhạc có bài "Thiều", Tử viết: tận mỹ hĩ, hựu tận thiện dã.

Chí Thánh Tiên Sư tức giận nói:

— Họ Tuân kia, đừng ép ta chửi người.

Lão tú tài buông tay, mặt đầy thương cảm, lẩm bẩm:

— Thiên hạ độc thư nhân, chúng ta độc thư nhân, xưa nay không cần một pho tượng bùn cao cao tại thượng, cần có người mắt lạnh gan nóng, nhìn hết mọi sai lầm và sửa sai của bọn độc thư nhân chúng ta!

Chí Thánh Tiên Sư mỉm cười nói:

— Hậu sinh khả úy, yên tri lai giả bất như kim dã.

Lão tú tài xoa cằm, gật đầu nhỏ giọng nói:

— Quá khen rồi, thật ngượng ngùng, không thể để Lễ Thánh và Á Thánh nghe được.

Rồi Thương Ngô thần quân liền nghe Chí Thánh Tiên Sư nói ra một câu... Tam Tự Kinh.

————

Đây hình như vẫn là lần đầu tiên Trần Bình An đặt chân đến tòa châu thành của Xứ Châu này.

Xứ Châu, Bảo Khê quận và Bình Nam huyện, phủ châu quận huyện cùng chung một thành, trong đó nha môn Bảo Khê quận phủ, bảng hiệu chữ vàng nền đen.

Vừa nhìn đã biết là bút tích của gia chủ Thiên Thủy Triệu thị, chữ khải, hơi mang vài phần thần vận của bia cổ.

Mới nhìn pháp độ nghiêm ngặt, tỉ mỉ không cẩu thả, nếu nhìn kỹ, trong quy củ lại có tự do.

Trần Bình An là đến gặp một người bạn quen chưa bao lâu, Kinh Khoan, tân nhiệm quận thủ Bảo Khê quận, tiền lang trung Thanh Lại ty Lại bộ kinh thành.

Bạn của bạn chưa chắc đã thành bạn, nhưng có thể trở thành bạn với một độc thư nhân chân chính như Kinh Khoan, Trần Bình An cảm thấy rất vinh hạnh.

Nay quan trường của tân Xứ Châu, nha thự lớn nhỏ, không đặt cửa cấm, còn truyền thống này từ đâu mà ra, có hai thuyết, một là bắt nguồn từ nha môn thái thú Long Tuyền quận của Viên Chính Định, cũng có nói sớm nhất là từ tòa Diêu Vụ đốc tạo thự thời Tào Canh Tâm tại nhiệm, theo lời của vị tửu quỷ đốc tạo kia, bách tính tiểu trấn chỉ cần đừng đến đốc tạo thự phơi thóc, phơi đến quan lại không có đường đi, thì cứ tùy ý dạo chơi, nhưng nếu mang theo rượu, thì cũng có thể thương lượng! Từng có diều giấy đứt dây của trẻ con rơi vào nha thự, vẫn là Tào đốc tạo đích thân đưa đến tận nhà, có điều cũng có người nói, là vì thằng bé mặc quần hở đũng kia, có một người chị gái, trông rất xinh xắn mơn mởn, Tào đốc tạo là ý của Túy Ông không ở rượu đấy.

Làm quan như Tào đốc tạo, hình như không để lại nhiều chính tích thanh liêm đáng để viết đậm trong huyện chí, nhưng có lẽ đối với bách tính tiểu trấn mà nói, ấn tượng về quan viên Đại Ly, liền thêm một loại, hơn nữa ấn tượng là tốt. Tóm lại sau đó, trên làm dưới theo, từ nha môn Hòe Hoàng huyện, lâu dần, liền thành quy củ quan trường ước định thành tục của cả cựu Long Châu, tiền nhiệm thứ sử Ngụy Lễ đối với việc này cũng không có dị nghị.

Chỉ là có thể tùy tiện vào nha môn, tự nhiên không có nghĩa là có thể tùy tiện ra vào các phòng công sở.

Biết là Trần sơn chủ của Lạc Phách Sơn đến thăm, lập tức có người thông báo cho Kinh đại nhân.

Sổ sách chất đầy án khiến người ta bận tối mắt, Kinh Khoan mặc công phục, dụi dụi mắt, đặt xuống một phần công văn về sông kênh mương đê trong địa hạt, sải bước ra khỏi phòng công sở, thấy Trần Bình An, vị quận thủ đại nhân này chỉ ôm quyền mà thôi, cũng chẳng câu khách sáo nào, có điều ý cười trên mặt, không tính là ít.

Trần Bình An giơ hai tay, đùa nói:

— Hai tay trống trơn đã đến bái sơn đầu, quay đầu Kinh đại nhân đến Lạc Phách Sơn uống rượu, ta xin tự phạt ba chén trước.

Kinh Khoan vội xua tay nói:

— Đến Lạc Phách Sơn ngồi chơi thì không vấn đề gì, uống trà là rất tốt rồi, Trần tiên sinh bây giờ đừng nhắc chuyện uống rượu với ta nữa, lần trước ở Xương Bồ hà, thật không chịu nổi, uống đến bây giờ ngửi thấy mùi rượu là đau đầu.

Trần Bình An nói:

— Ta chỉ đến đây dạo chơi, không làm lỡ công vụ của Kinh huynh chứ?

Kinh Khoan nói:

— Nói lời khách sáo, làm chủ quan một quận, hôm nay dù cả ngày cùng Trần tiên sinh dạo chơi, cũng đều là công vụ. Nhưng nói thật lòng, nha thự tiếp đãi không chu đáo, bận rộn tranh thủ hai khắc, cũng không thành vấn đề.

Trần Bình An cười nói:

— Vậy dẫn ta tùy ý dạo quanh nha thự? Hai khắc là đủ rồi.

Kinh Khoan hơi bất ngờ, có điều chuyện này chẳng có gì, không tính là phá lệ, nói thật, Trần tiên sinh bất kể có bao nhiêu thân phận, bản sắc vẫn là môn sinh Nho gia.

Tuy hai bên thật ra mới gặp nhau hai lần, uống một bữa rượu, Kinh Khoan đối với cảm giác này của mình, vô cùng chắc chắn.

Sau đó Kinh Khoan dẫn Trần Bình An dạo qua nhiều phòng công sở của tòa phủ nha, dọc đường, Trần Bình An cũng hỏi nhiều chi tiết như quản lý trường học, tế tự trạm dịch, cũng may Kinh Khoan là một quan viên cực kỳ cần chính, lại thích và giỏi truy cứu những chi tiết vụn vặt, nếu không thật chưa chắc đã đáp ngay được những câu hỏi có thể gọi là hóc búa ấy. Một hỏi một đáp, hai khắc thời gian rất nhanh đã trôi qua, Trần Bình An cũng đã dạo khắp một tòa nha thự, bèn cáo từ rời đi, chỉ nói mời Kinh huynh lúc rảnh đến Lạc Phách Sơn uống chén rượu nhỏ, hắn sẽ đích thân xuống bếp, trên bàn không ép rượu. Rồi hỏi nay Bình Nam huyện là thủ huyện của Bảo Khê quận, tân nhiệm huyện lệnh có phải tên Phó Hồ, đến từ Dịch Bưu Tiệp Báo xứ dưới quyền Xa Giá ty Binh bộ kinh thành không. Kinh Khoan gật đầu nói phải, còn nói người này là em trai của Phó Ngọc, tiền nhiệm chủ quan Bảo Khê quận, vì phủ huyện cùng chung một thành, Kinh Khoan thường xuyên chạm mặt thuộc hạ này, có điều tạm thời chưa nhìn ra chính sự tốt xấu của vị thủ huyện chủ quan này.

Trần Bình An bèn rời khỏi nha thự. Tiền nhiệm thái thú Bảo Khê quận Phó Ngọc, là thế gia tử kinh thành, y sớm nhất là theo Ngô Diên cùng đến tiểu trấn, thuộc về quan lại Đại Ly sớm nhất tiến vào địa giới Ly Châu động thiên, năm ngoái vào kinh báo cáo công tác, thăng làm thiếu chiêm sự của Chiêm Sự viện, chức chưởng Tả Xuân phường, quan thân thanh quý hạng nhất.

Tiếc là Phó Ngọc không phải tiến sĩ khoa trường xuất thân, chưa từng vào Hàn Lâm viện, cũng chưa từng như tướng chủng tử đệ Lưu Tuần Mỹ dấn thân sa trường, thiếu hai loại lý lịch này, đối với con đường thăng tiến tương lai của Phó Ngọc, là một trở ngại không lớn không nhỏ.

Trong Bình Nam huyện có con sông uốn lượn chảy qua, trên sông có thuyền phu chống thuyền đánh cá, khi măng tre trong núi vừa nhú, xuân về nước dâng cao thêm một sào.

Hôm nay Phó Hồ vừa xử lý xong một việc công, không vội quay về huyện nha bên kia, bèn bảo mấy tá quan lại dịch đi về phủ trước, một mình ngồi bên sông bắt đầu câu cá, đều là ra cửa đã chuẩn bị sẵn.

Huynh trưởng Phó Ngọc, vừa hay hơn Phó Hồ một giáp. Trưởng huynh vi phụ, lại thêm Phó Ngọc sĩ đồ thuận lợi, bình bộ thanh vân, cho nên Phó Hồ rất sợ người huynh trưởng ngày thường luôn nghiêm nghị ít cười này.

Dù sao người đứng đầu Tiệp Báo xứ, cũng mới chính thất phẩm, lại là nha môn nhỏ không thực quyền, so với Nam Huân phường đầy rẫy lang trung kia, một trời một vực.

Phó Hồ một tay cầm cần, tay kia nắm một món đồ cầm tay bằng ngọc dương chi, lòng bàn tay nhẹ nhàng xoa nắn.

Lần này ra kinh làm quan, rời khỏi con hẻm Mạo Đái vốn tưởng sẽ ở thêm mấy năm, thuộc về bình điều, có điều Xứ Châu vốn là thượng châu của Đại Ly, mà Bình Nam huyện lại thuộc thượng huyện của Đại Ly vương triều, trở thành phụ mẫu quan của huyện này, đương nhiên thuộc về trọng dụng. Phó Hồ với vị huyện lệnh Hòe Hoàng huyện kia, cho dù đến phủ đệ thứ sử, nói chuyện với mấy vị thái thú, giọng cũng có thể lớn hơn một chút. Trước đây đợi công văn truyền đến Tiệp Báo xứ, Phó Hồ đang nhàn nhã sống qua ngày ở đó đầu óc mụ mị, ban đầu lầm tưởng là phụ thân, hoặc huynh trưởng Phó Ngọc, ngầm thêm một tay, giúp vận động, mới được một chức thực khuyết ở nơi này.

Kết quả ăn xong một bữa cơm tất niên, cùng Phó Ngọc thức đêm giữ giao thừa, Phó Hồ lấy hết can đảm chủ động hỏi chuyện này, huynh trưởng lại lắc đầu nói không phải việc của y và gia tộc, nói thẳng mình chỉ là thiếu chiêm sự của Chiêm Sự viện, còn chưa có bản lĩnh, chỉ dựa vào mấy câu nói, đã quyết định được nhân tuyển chủ quan một thượng huyện Đại Ly. Cuối cùng Phó Hồ cứ mơ mơ hồ hồ, đến Xứ Châu Bình Nam huyện này tẩu mã thượng nhậm, trong địa hạt nhiều núi nhiều rừng trúc.

Khóe mắt Phó Hồ liếc thấy một nam tử thanh sam đầu cài trâm ngọc, xách cần câu, thắt lưng đeo một giỏ cá, chậm rãi đi đến, đối phương chọn một điểm câu kề bên, có hiềm nghi mượn ké ổ câu, vừa nhìn đã biết là tay trong nghề, Phó Hồ cũng không so đo những chuyện này, dân câu cá trong thiên hạ là một nhà, chỉ cần tên này đừng đỏ mắt với thu hoạch của mình, quay đầu ném đá xuống nước là được. Xem ra đối phương chỉ là nửa thùng nước, quăng cần rải mồi cả buổi, cũng chẳng con cá nào cắn câu, chủ yếu là mấy lần nhấc cần đều hơi vội, không chạy cá mới lạ, người kia bèn đặt cần câu xuống, nhích bước đến chỗ Phó Hồ ngồi xổm, rướn cổ nhìn giỏ cá một cái, lại đối mắt với Phó Hồ một cái, hai bên đều hiểu, trong nháy mắt tâm lĩnh thần hội, mỗi người gật đầu một cái, đều không cần phí nửa câu vô ích, coi như đã đạt thành nhận thức chung, quay đầu Phó Hồ sẽ từ giỏ cá lấy ra mấy con cá, tặng cho người đồng hành bình thủy tương phùng mà kỹ thuật câu không tinh này.

Như vậy, về nhà có thể bớt bị mắng một trận. Dù sao chỉ cần không tay trắng trở về, còn có thể đổ tại cá không ăn mồi, quan hệ không lớn với kỹ thuật câu.

Người kia bắt đầu kiếm chuyện nói:

— Huynh đệ này, dây câu thắt nút rất có học vấn đấy, trước đây chưa từng thấy, ngay từ đầu đã nhắm đến con cá trắm đen ba năm chục cân rồi?

Phó Hồ cười nói:

— Muốn học?

Người kia gật đầu nói:

— Chỉ cần huynh đệ chịu dạy, ta liền học.

Phó Hồ bèn dứt khoát thu cần, cùng người này giảng giải chi tiết bí quyết thắt nút, người kia gật đầu như gà con mổ thóc, ừ ừ ừ, xem ra là học được rồi.

Phó Hồ sau đó lại quăng cần xuống nước, phát hiện tên này cũng không có ý định quay về tiếp tục câu cá, không nhịn được cười hỏi:

— Lão ca, yên tâm, lát nữa ta thu cần, chắc chắn để ngươi tùy ý chọn hai con cá lớn, ngươi cứ nhìn chằm chằm ta như vậy là chuyện gì, sợ ta xách giỏ cá lên là chạy à? Không đến mức đó.

Người đàn ông ngồi xổm bên cạnh lại cười nói:

— Câu cá có ba cảnh giới, thích câu cá, mà câu chẳng được con nào. Mỗi lần câu cá, đều đầy ắp mà về. Câu cá chỉ là câu cá, không cầu thu hoạch. Lên trên nữa, còn một tầng cảnh giới, có thể gặp mà không thể cầu, phải xem thiên tư của người câu cá.

Phó Hồ cười nói:

— Ồ? Còn một tầng cảnh giới cao hơn? Nói thế nào, lão ca ngươi nói nghe xem.

Người kia nghiêm trang nói:

— So với câu cá, càng thích xem người ta câu cá.

Phó Hồ giơ ngón cái, ha ha cười nói:

— Vòng vo tam quốc, hóa ra là tự khen, lão ca được đấy.

Tử đệ kinh thành, có kẻ thịnh khí lăng nhân, cũng có người hòa hòa khí khí như Phó Hồ, dùng lời của Phó Hồ mà nói, chính là dựa vào tổ tiên kiếm miếng cơm ăn mà thôi, suốt ngày chỉ biết lấy bách tính thường dân ra tìm vui, thật mất giá.

Người kia hỏi:

— Nghe khẩu âm của huynh đệ, không giống người địa phương chúng ta.

Phó Hồ gật đầu nói:

— Từ kinh thành đến, làm chút buôn bán nhỏ, ăn không ngồi rồi chờ chết. Lão ca ngươi thì sao, người ở đâu?

— Bên Hòe Hoàng huyện, đến đây thăm họ hàng.

— Hòe Hoàng huyện? Cách Bình Nam huyện chúng ta, cũng không tính là gần.

— Chẳng tính là gì, trước đây từng làm thợ lò, thường lên núi đốn củi đốt than, đi mấy bước đường này, đều không thở dốc.

Phó Hồ cười nói:

— Lão ca trò chuyện thì mạnh hơn câu cá chút.

Người kia cũng là người tính khí tốt, bị trêu một câu ngược lại ngồi xổm đó cười ngô nghê.

Phó Hồ liền thấy tên này, chơi được.

Phó Hồ hỏi:

— Ta họ Phó, Phó của sư phó Long Diêu, lão ca thì sao?

Người kia cười đáp:

— Ta họ Trần, Trần tai đông.

Gia thế của Phó Hồ, còn chưa tốt đến mức để y có thể sở hữu tùy tùng gia tộc, cung phụng gia tộc, tự nhiên là có, chỉ là đâu đến lượt y Phó Hồ, cho dù là huynh trưởng Phó Ngọc, trừ khi đi xa, ngày thường ở kinh thành cũng không ngày nào cũng theo một luyện khí sĩ, lại nói, ở Xứ Châu này, y Phó Hồ tốt xấu cũng là quan thất phẩm, sợ gì.

Đã như vậy, vênh váo cái gì, thật có tư cách đi ngang, là loại như Tào Canh Tâm, Lưu Tuần Mỹ, bọn họ đi ở hẻm Ý Trì, phố Trì Nhi, lão nhân cũng ít khi ra vẻ trước mặt bọn họ. Còn Phó Hồ, chỉ cần là việc có thể giết thời gian, ví như câu cá, còn có còi bồ câu, Phó Hồ đều thích, điển hình bất vụ chính nghiệp, cái này gọi là cao không thành thấp không tựu, ngực không chí lớn.

Trần Bình An nói:

— Xứ Châu chúng ta, chính là nơi tốt rất dễ thăng quan, lão bối đều nói nơi này quan vận vượng, có thể ra đại quan, hơn nữa danh tiếng đều không tệ.

Phó Hồ bĩu môi:

— Đều nói cựu Long Châu, nay là tân Xứ Châu, các cấp quan viên tinh minh tài giỏi, theo ta thấy, thật cũng là thật, hừ.

Trần Bình An cười nói:

— Chính là?

Phó Hồ xua tay:

— Không bàn cái này, lão ca ngươi là dân thường, ta là thương nhân đầy mùi đồng, lo chuyện bao đồng này chẳng phải ăn no rửng mỡ sao.

Trần Bình An nói:

— Ta đoán đại ý của Phó lão đệ, là thấy các cấp quan viên Xứ Châu, quá biết làm quan? Trong xương quá coi chuyện làm quan là chuyện lớn? Việc cũng làm, làm quả thật tốt hơn quan viên nơi khác, chỉ là mùi quan nặng, trong xương quan uy lớn, khiến người ta cứ thấy chỗ nào không đúng, ừm, giống như Phó lão đệ dạy ta thắt nút dây câu, vòng vòng móc nối nhau.

Phó Hồ quay đầu nhìn người đàn ông thăm họ hàng này, tóc hơi bạc, mặt mũi trông vẫn trẻ, cho nên không xác định được tuổi thật, Phó Hồ cười cười, tùy tiện đối phó một câu:

— Đại khái không như vậy, cũng không làm được quan vận hanh thông, đúng không?

Trần Bình An gật đầu:

— Phó lão đệ có thể nghĩ như vậy, không đi làm huyện lão gia, thật đáng tiếc.

Phó Hồ do dự một chút, nói:

— Trần lão ca, hai ta hợp ý, ta liền thổ lộ thật với ngươi, vừa rồi lừa ngươi đấy, thật ra ta là người làm việc trong công môn huyện nha, người kinh thành, thì không lừa ngươi, việc trước, là ở một nơi gọi là Dịch Bưu Tiệp Báo xứ, ngồi ghế lạnh, lão ca nghe còn chưa từng nghe qua nhỉ? Ha, nha môn nước trong, danh xứng với thực, địa bàn bé tí tẹo, ai mà đánh rắm một cái, cả nha môn đều nghe thấy. Mũ quan lớn nhất, cũng mới là thất phẩm, như trong tuồng vẫn nói, quan vừng.

Quen cạn mà nói sâu, ở đâu cũng là điều kiêng kỵ.

Trần Bình An mỉm cười nói:

— Phó lão đệ nói chuyện cũng dí dỏm, tốt như kỹ thuật câu vậy.

Phó Hồ lười biếng nói:

— Làm quan tốt, không dám mong, làm thanh quan, sờ lương tâm cũng dám nói.

Nhưng tiếp theo, người họ Trần là dân địa phương này, nói một phen lời, nghe đến Phó Hồ da đầu tê dại.

Chỉ nghe người kia thần sắc bình tĩnh, nhìn mặt sông, thủ thỉ kể ra:

— Công tội tính riêng, tiền nhiệm thứ sử Ngụy Lễ, thật ra là có chỗ thất chức, không ở việc, mà ở giáo hóa. Xử án ngục tụng cho thanh bình, sổ sách hộ tịch trạm dịch, truy bắt trộm cướp, sông kênh đường sá nhiều việc, Ngụy Lễ làm chủ quan một châu, đương nhiên đều phải quản tốt, đây là phận sự của y, nhưng chính sự một châu, theo luật Đại Ly, cũng có chức trách tuyên dương phong hóa để giáo dưỡng bách tính, cái này lại đúng là điều kinh sát đại kế và khảo hạch địa phương không thể lượng hóa cụ thể, có thể qua việc trong một châu thêm mấy cử tử, tiến sĩ khoa trường, miễn cưỡng nhìn ra chút manh mối, chỉ là vẫn còn xa mới đủ, quận thủ dường như là quan thân dân, thật ra không phải, làm phong cương đại lại như thứ sử đại nhân, thì càng không tính, một năm cũng chẳng thấy được mấy bách tính, tuy nói chức trách ở chỗ, ở đốc thúc, ở dẫn dắt, ở trù hoạch chung, ở điều hòa, chỉ là một triều đình nha môn vận hành, chỉ là từ trên xuống dưới, quan viên ba cấp châu phủ huyện, trong lòng ai ai cũng chỉ dồn công phu vào một việc làm quan, nếu không theo ta thấy, một nha thự càng là quan lại tài giỏi, vận hành nhanh chóng, bản lĩnh che giấu, che đậy sai lầm lại càng tốt, lại càng là thần không biết quỷ không hay, ở nơi quan lại thủ đoạn ngang ngược, bách tính chịu oan ức, ít nhất ai cũng biết là chịu oan ức, người ngoài nhìn thấy, trong lòng như gương sáng, nhưng ở Xứ Châu này, hoặc nói Xứ Châu sau này, thì khó nói rồi, như xe giá đi qua, tự có người đi sau xe giá, giúp xóa sạch dấu vết, chủ quan không muốn người biết, người liền không biết. Triều đình miếu đường bên trên, bách tính bên dưới, đều sẽ không biết, chỉ có quan viên đồng liêu, trên dưới, sớm đã ngầm hiểu, như ngươi ta vừa rồi nhìn nhau một cái, liền biết 'quy củ' thế nào. Cho nên ta có thể đoán chắc, nếu triều đình Đại Ly sau này, chính là một quan trường Xứ Châu lớn hơn, là rất có vấn đề. Ở chuyện này, tiền nhiệm thứ sử Ngụy Lễ đã để lại một mớ hỗn độn không nhìn thấy cho Ngô Diên.

Phó Hồ ngẩn ngơ không nói.

Chỗ khiến y cảm thấy chấn động nhất, không ở chỗ đối phương mở miệng ra là Ngụy Lễ, Ngô Diên, tùy tùy tiện tiện gọi thẳng tên, thậm chí cũng không ở những quan điểm ấy của đối phương.

Nói thật, ở quan trường kinh thành, cứ nói cái Tiệp Báo xứ y làm người đứng đầu kia, riêng tư, nói ai mà chẳng nói, đóng cửa lại, mắng mấy câu thượng thư lục bộ thì sao, ta là ai ai thì sẽ thế nào thế nào những lời nói suông, lời thừa, lời khoác lác, càng là nha môn nhỏ, giữa đồng liêu tin tưởng lẫn nhau, càng là mỗi ngày đều có cả sọt. Y Phó Hồ năm xưa đặc biệt thích cùng tên câm như hến Lâm Chính Thành kia bàn những chuyện này.

Cho nên chỗ thật sự khiến Phó Hồ cảm thấy chấn động, là ở lời nói này của người kia, vừa hay nói trúng một tâm sự của Phó Hồ, cuối cùng khiến y hiểu ra chỗ nào không đúng rồi.

Không lâu trước một quan viên chuyên quản văn giáo của nha thự thứ sử, gọi tất cả huyện giáo dụ của các phủ huyện trong một châu, đại ý là thứ sử đại nhân cực kỳ coi trọng việc này, đặc biệt dành cả buổi chiều, mời chư vị đến nha thự tán gẫu tâm sự, thứ sử đại nhân nói, mọi người có thể nói thỏa thích, nói nhiều vấn đề, đề nhiều ý kiến, nói nhiều chỗ không hài lòng... những cái này đều chẳng tính là gì, chỗ khiến Phó Hồ lúc đó cũng có mặt cảm thấy khó chịu nhất, là quan viên kia, cuối cùng một câu, nói cơ hội như vậy, những năm qua ở nơi khác, đều là không thường thấy, chư vị đều là độc thư nhân, nên trân trọng cơ hội này, có dịp gặp được thứ sử đại nhân, lời nói cố gắng ngắn gọn súc tích, ít dây dưa những chuyện không liên quan, thứ sử đại nhân công vụ bận rộn...

Phó Hồ thì không nghi ngờ dụng tâm của vị quan địa phương tòng ngũ phẩm kia, chắc chắn không có ác ý gì, nhưng đúng là cái "mùi quan" trên người đối phương, cái hơi thở quan trường coi quan giai, đẳng cấp là tất cả một cách đương nhiên ấy, khiến Phó Hồ là thế gia tử đã quen thấy quyền quý triều đường, uy nghiêm đại quan ở kinh thành, đều cảm thấy cực kỳ không thích ứng.

Khó khăn lắm mới hoàn hồn, Phó Hồ cười khổ nói:

— Mẹ ơi, Trần lão ca, loại lời này đừng nói bừa, nói cũng đã nói rồi, đây chỉ có hai anh em ta, ngươi nói qua ta nghe qua coi như xong, giả vờ như chưa xảy ra chuyện gì, ngàn vạn ngàn vạn đừng truyền ra ngoài!

Ngươi một "dân thường", có thể không coi là chuyện, ta cũng mặc kệ ngươi rốt cuộc là gan to tim lớn, hay đọc mấy quyển sách đã thích bàn những chuyện có không này.

Nhưng ta Phó Hồ tốt xấu cũng là huyện lệnh đàng hoàng, tuy nói chắc chắn không đến mức vì lời nói mà mang tội, nhưng bị đồng liêu quan trường nghe được, chẳng phải cả năm bị đi giày chật sao?

Thấy người kia cười cười, Phó Hồ trong lòng càng đánh trống, chẳng lẽ là người trên núi? Dù sao trong Xứ Châu này, thần tiên tu đạo trên núi quả thật không ít.

Phó Hồ nói:

— Nói đi cũng phải nói lại, Trần lão ca, chỉ bằng kiến thức và khí phách này của ngươi, nếu đi làm quan, làm huyện lệnh thì uổng tài, phải là phủ tôn khởi bước!

Trần Bình An mỉm cười nói:

— Mắt nhìn của Phó lão đệ, còn tốt hơn kỹ thuật câu đấy.

Phó Hồ vui không chịu nổi, không còn căng thẳng nữa.

Tiếp theo thấy người kia ngồi xổm, hai tay đút tay áo, nhẹ giọng nói:

— Phó lão đệ, ta thấy như vậy không đúng, còn xa mới đủ tốt, ngươi thấy sao?

Phó Hồ thở dài:

— Trần lão ca, còn nữa?! Vậy ta thật phải khuyên ngươi một câu rồi!

Người kia chủ động tiếp lời nói:

— Ăn củ cải mặn lo chuyện nhạt nhẽo? Rõ là dân thường, lại đi lo chuyện của quan chánh đường một bộ triều đình?

Phó Hồ cười lớn không thôi, đưa tay vỗ vỗ vai người kia:

— Biết là tốt, biết là tốt.

— Phó lão đệ, có từng nghe Nam Phong tiên sinh?

Phó Hồ lắc đầu, từ nhỏ đã không thích đọc tạp thư, đối phó những điển tịch khoa trường kia đã đủ mệt người rồi.

— Vậy ta giới thiệu cho ngươi mấy bài văn của vị lão tiên sinh này, chắc ngươi sẽ thích, "Việt Châu Triệu Công Cứu Tai Ký" và "Nghi Hoàng Huyện Học Ký", ta thấy đây chính là đạo đức văn chương tốt nhất thiên hạ, đương nhiên, đây chỉ là kiến giải cá nhân của ta.

Phó Hồ bất đắc dĩ nói:

— Được được, có rảnh sẽ lật xem.

Ngươi sao còn nghiêm túc so đo với ta nữa.

Tiếp theo người họ Trần này, cũng không khách khí, giật lấy giỏ cá của Phó Hồ, bắt đầu "chuyển cá".

Được rồi, chắc là tên thư sinh nghèo thời vận bất tế trên đường khoa cử, toan tú tài?

Uổng công mình vừa rồi còn thấy đối phương là người tu đạo trên núi.

Phó Hồ không nhịn được trêu nói:

— Trần lão ca, Ngụy đại nhân nay ở kinh thành đã làm đại quan, tân nhiệm thứ sử Ngô đại nhân, càng lợi hại vô cùng, sau này có cơ hội gặp bọn họ, dám đương mặt nói những lời này không?

Người đàn ông trường quải bố hài kia, đã đi đến vị trí của mình, tay cầm cần câu, thắt chặt giỏ cá bên hông, mỉm cười nói:

— Cũng là hai anh em ta hợp ý, ngồi xổm trò chuyện cũng là chuyện vui.

— Đổi thành hai người Ngụy Lễ và Ngô Diên, những đạo lý này, ta ngồi nói, bọn họ phải đứng nghe.

Phó Hồ nghe vậy lại lần nữa không nói nên lời, giơ ngón cái với tên kia.

Chà chà, xem cái vẻ vênh váo của ngươi kìa, ngươi họ Trần, sao không gọi là Trần Bình An luôn đi?!

Khoản ăn nói này, ta Phó Hồ xem như phục rồi, vẫn là Trần lão ca ngươi cao hơn.

— Hoan nghênh Phó lão đệ đến Lạc Phách Sơn bên kia làm khách, nhà ta có tòa Hoàng Hồ sơn, cá còn lớn hơn.

Người kia vẫy tay từ biệt Phó Hồ, cười nói:

— Đúng rồi, ta tên Trần Bình An, Trần tai đông, Bình của bình bình an an.

Đăng nhập